CHƯƠNG 1 – CƠ Ở LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM ÁT CỦA HỘI ĐỒNG NH N D N CẤP TỈNH.1 Khái quát về hoạt đồng giám sát củ H i đồng nh n n ấp tỉnh 1.1 Khái niệm giám sát ủ H i đồng nh n n ấp tỉnh * Khái niệm giám sát Có thể thấy rằng thuật ngữ "giám sát" được dùng rất phổ biến trong khoa học chính trị, pháp lý và được đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội cũng như phổ biến ở đời sống xã hội. Đồng thời có rất nhiều định nghĩa giám sát khác nhau được đưa ra tùy theo phạm vi rộng, hẹp của nội dung nghiên cứu cụ thể. Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt thì giám sát là "Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không?", dùng chỉ một hoạt động xem x t có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hệ thống đối với khách thể thuộc hệ thống (có thể là không trực thuộc), tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu sự giám sát không nằm trong một hệ thống trực thuộc nhau theo chiều dọc. Trong bộ máy nhà nước, giám sát thường được hiểu là chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước.
Theo quan điểm của khoa học hành chính “Giám sát dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, tòa án, các tổ chức xã hội và công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý xã hội” [7, Tr 217] Mặc dù, có những quan niệm khác nhau, nhưng nội hàm của giám sát có những điểm chung là việc theo dõi, xem x t, quan sát của một chủ thế với một đối tượng nào đó bị giám sát. Hoạt động giám sát gắn liền với sự ra đời của nhà nước và pháp luật. Khi nhà nước ra đời, nhà nước đồng thời ban hành pháp luật để quản lý và theo đó, hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật đối với các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân được đặt ra. Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động có tính đặc trưng của tất cả các nhà nước.
ịch sử đã chứng minh rằng, không có nhà nước nào có thể tồn tại và 11 phát triển nếu không tiến hành hoạt động giám sát, dù bản chất và hình thức có thể không giống nhau, phụ thuộc vào bản chất nhà nước cũng như cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Như vậy có thể đưa ra quan niệm về giám sát như sau : giám sát à sự theo dõi, xem xét hoạt động của chủ thể có thẩm quyền thể hiện tính chủ động, i n tục, thường xuy n và tác động thông qua các iện pháp tích cực nhằm hướng hoạt động của khách thể (đối tượng ị giám sát) thực hiện đúng những điều đã quy định. Theo khoản 1, khoản 2, điều 2 uật hoạt động giám sát của Quốc Hội và Hội Đồng nhân dân, năm 2015: Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem x t, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.[13, Đ2] Chủ thể giám sát bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân;(25) Còn tại khoản 1, Điều 2, uật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 thì “Giám sát” là việc Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem x t, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.[12, Đ2] Thực chất giám sát của HĐND là việc thực hiện sự ủy quyền của nhân dân để giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, là một hình thức thực hiện quyền giám sát của nhân dân được thực hiện bằng pháp luật, thông qua cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND các cấp. 12 Từ các cơ sở nêu trên, có thể hiểu khái niệm giám sát của HĐND như sau: Giám sát của HĐND là hoạt động có mục đích, thường xuyên, liên tục của HĐND nhằm quan sát, theo dõi, kiểm tra, phát hiện, uốn nắn việc tuân theo pháp luật, chấp hành Nghị quyết HĐND của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp, của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân theo quy định của pháp luật.
Giám sát của HĐND là hoạt động nhằm kiểm soát thực thi quyền lực nhà nước. Giám sát chứa đựng những yếu tố thuộc tính của công các kiểm tra, kiểm soát và thanh tra. Trong quá trình giám sát, chủ thể giám sát có quyền tiếp cận mọi đối tượng, mọi văn bản, hồ sơ theo yêu cầu giám sát. uật Hoạt động giám sát của Quốc hội ban hành năm 2003 giải thích “Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem x t, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội”.[28,Đ2] uật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND năm 2003 tuy không định nghĩa cụm từ giám sát nhưng các nội dung trong chương III của luật này quy định cụ thể nội dung mà Hội đồng nhân dân tiến hành giám sát bao gồm: giám sát tổ chức hoạt động của các cơ quan do HĐND bầu ra và giám sát việc thi hành pháp luật và nghị quyết của các đối tượng chịu sự giám sát của HĐND thông qua các hình thức: xem x t báo cáo công tác của những đối tượng theo quy định pháp luật; xem x t trả lời chất vấn của những đối tượng này; tổ chức các đoàn giám sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu, thông qua việc tiếp dân và theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến HĐND.
Có thể thấy rằng, giám sát là một trong hai chức năng quan trọng của HĐND, thông qua hoạt động giám sát chúng ta có thể kiểm chứng lại tính đúng đắn, sự phù hợp về các quy định của pháp luật đã, đang được áp dụng trong 13 cuộc sống và những chủ trương biên pháp mà HĐND đã quyết nghị; giúp chúng ta phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc và kịp thời có những giải pháp thảo gỡ để thực hiện nhiệm vụ một cách chủ động. Hoạt động giám sát còn là cơ sở để thực hiện công tác thẩm tra và đi đến quyết định vấn đề một cách chính xác, bảo đảm các nghị quyết ban hành có chiều sâu, sát thực tiễn, phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của cử tri. Trong thực tế hiện nay, xác định hiệu quả giám sát là một nhiệm vụ phức tạp và đầy khó khăn cả về mặt lý luận và thực tiễn. Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm hiệu quả giám sát được hiểu là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định.
Trong khi đó các nhà quản lý hành chính lại cho rằng: hiệu quả là sự so sánh giữa các chi phí đầu tư với các giá trị của đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu ra, đầu vào. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu về hiệu quả giám sát của HĐND, cần phải đặt hiệu quả trong mối quan hệ với hiệu lực giám sát của HĐND. Hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc vào việc HĐND thực hiện chức năng giám sát của mình theo quy định của pháp luật đến đâu cũng như những kết luận kiến nghị từ hoạt động giám sát có được các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh hay không. Để đảm bảo hiệu lực, hoạt động giám sát có chất lượng, nghĩa là phải đưa ra những kết luận đề xuất đúng đắn.
Trong mối quan hệ giữa chất lượng và hiệu lực giám sát thì chất lượng giám sát là tiền đề bảo đảm thực hiện hiệu lực nhưng để đảm bảo hiệu lực giám sát cần có sự tự giác chấp hành nghiêm chỉnh của các chủ thể bị giám sát đối với các kết luận, đề xuất đúng đắn rút ra từ hoạt động giám sát. Đồng thời, cần có các biện pháp xử lý đối với các chủ thể không chấp hành nghiêm các kết luận đề xuất đó. Một khi chất lượng và hiệu lực giám sát được đảm bảo thì đương nhiên hiệu quả giám sát sẽ tốt hơn. Như vậy, giữa hiệu lực và hiệu quả giám sát có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Tuy nhiên, vì tính hiệu quả của hoạt động giám sát, bên cạnh việc đảm bảo về mặt hiệu lực phải tính toán những chi phí đầu tư cần phải ở mức tối ưu. 14 Từ những phân tích trên, hiệu quả giám sát của HĐND được hiểu là hiệu lực thi hành các kiến nghị của hoạt động giám sát, đem lại kết quả phù hợp với mục đích giám sát, với những chi phí hợp lý về thời gian, trí lực, vật lực….cho hoạt động giám sát. Ngày 20/11/2015, Quốc hội khoá XIII đã ban hành uật Giám sát của Quốc hội và HĐND nhằm cụ thể hoá hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND các cấp mà trước đó chỉ có uật giám sát của Quốc hội năm 2003. Trên cơ sở đó, hoạt động giám sát của HĐND sẽ được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.
Giám sát của HĐND bao gồm: Giám sát của HĐND tại kỳ họp; giám sát của TTHĐND; giám sát của các ban HĐND và giám sát của Tổ đại biểu, đại biểu HĐND.