CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE TINH HÌNH XÂY DỰNG NHÀ Ở XÃ HỘI VÀ VIỆC TÔ CHỨC CÁC KHÔNG GIAN DỊCH VỤ CÔNG CỘNG TRONG CÁC KHU NHÀ Ở XÃ HỘI HIỆN NAY TRÊN ĐỊA BÀN TP. Một số khái m cơ bản về nhà ở xã hội Nha ở xã hội là một loại hình nhà ở thuộc sở hữu của nhà nước hoặc các tổ chức xã hội phi lợi nhuận, được xây dựng với mục dích cung cắp dịch vụ nhà ở giá rẻ cho những đối tượng như công nhân, nhân viên, những người có thu nhập thấp với giá cho thuê hoặc mua rẻ hơn so với giá thị trường. Nhà ở xã hội là loại nhà ở chỉ dành cho một số đối tượng nhất định được thuê và thuê mua. Đối tượng được thuê nhà ở xã hội chủ yếu là cán bộ, công chức viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang.
nhân dân, công nhân làm việc tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và các đối tượng khác theo quy định của Chính phủ, tùy điều kiện của từng địa phương mà đối tượng của nhà ở xã hội được mở rộng. Những đối tượng này phải có thêm điều kiện là người có thu nhập thấp, chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình và chưa được thuê hoặc mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng là nhà ở tạm, hư hỏng hoặc dột nát, không đáp ứng được nhu cầu sống tối thiều. Khái niệm về nhà ở xã hội có phạm vi hẹp hơn so với khái niệm nhà ở cho người có thu nhập thấp. Đối tượng của nhà ở xã hội giới hạn trong phạm.
vi những người làm công ăn lương khu vực công và một phần khu vực tư nhân (tương đối chính quy, quy mô sản xuất kinh doanh từ trung bình đến lớn, có thể là công nhân các khu công nghiệp) thì nhà ở dành cho người có thu nhập thấp mở rộng ra cả khu vực tư nhân bao gồm cả những người làm công ăn lương và những người kinh doanh cá thẻ 1. Tình hình chung về xây dựng nhà ở xã hội tại Hà Nội trong những năm qua. Sơ lược quá trình phát triển nhà ở xã hội Hà Nội. * Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1986 Sau ngày giải phóng Thủ đô (1954), trong giai đoạn miền Bắc xây dựng CNXH để tạo cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến chống Mỹ nhu cầu về nhà ở đã xuất hiện nhưng kinh tế thì eo hẹp nên chỉ có ít các khu ở một tầng được xây dựng như An Dương, Phúc Xá, Mai Hương, Đại La và các khu nhà gỗ ở Chương Dương, Hàm Tử Quan ngoài đê sông Hồng.
Các khu vực nhà ở này. có khu vực xí, tắm tập trung phục vụ cho từng nhóm nhà nên rất bắt tiện và mắt vệ sinh cho người ở. Từ năm 1960-1965, Hà Nội có xây dựng thêm các khu nhà ở Kim Liên, Nguyễn Công Trứ thiết kế theo kiêu căn hộ khép kín theo tiêu chuẩn của Liên Xô tương đối cao. Song lúc này, nhu cầu nhà ở Hà Nội là rất lớn và cấp bách, nhà mới lại xây dựng chưa nhiều nên phải chia mỗi hộ ở tạm một phòng trong một thời gian.
Dự kiến khi xây thêm nhà sẽ được sắp xếp lại. Nhưng do kinh tế không theo kịp được, nhu cầu ở lại vượt xa cung nên không điều chỉnh kịp. Bắt hợp lý này cứ tồn tại mà chưa tháo gỡ được nên các hộ vẫn phải sử dụng chung bếp, chung khu vệ sinh, không đáp ứng được nhu cầu tiện nghỉ. Tir sau 1965, nền kinh tế phát triển hơn, hàng loạt các tiểu khu nhà ở cao.
tầng ra đời như Trung Tự, Khương Thượng, Vĩnh Hồ, Thành Công, Giang Võ. từ 4-5 tầng theo mô hình tiểu khu nhà ở Liên Xô. Trong giai đoạn này, nhà ở có diện tích sử dụng thấp hơn nhưng đảm bảo mỗi hộ đều có công trình phụ khép kín, riêng biệt Một số khu ở 2 tầng như Trương Định, Yên Lãng, Kim Giang cũng được xây dựng trong những năm 1970-1980 với những căn hộ độc lập. Khu nhà ở tập th Nguyễn Công Trứ.
[20] Do vốn tập trung từ nhà nước nên thiết kế xây dựng khá hoàn chỉnh, từ công trình kỹ thuật hạ tầng đến nhà ở và các công trình công cộng khá tốt. Người được ở là cán bộ công nhân viên chức nhà nước có trình độ dan tri cao, lại có kỷ luật của co quan xí nghiệp nên giữ được bộ mặt của đô thị theo lối sống hiện đại. Khu nhà ở tập thể Giang Võ. [20] Nhung nhin chung, trong giai đoạn 1954 đến năm 1986, nhà nước mới chỉ chú ý đến việc xây dựng nhà ở hơn là tổ chức quy hoạch không gian đô thị Hà Nội một cách tổng thể, người ta chỉ chú ý xây dựng nhà ở nhiều hơn là xây dựng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đi kèm như là hệ thống cấp thoát nước, cấp điện, đường xá, vệ sinh môi trường.
“Thêm nữa tính chất bao cấp tuyệt đối trong lĩnh vực nhà ở thê hiện trong việc cấp nhà cho thuê với khoản tiền thuê nhà rất thấp(1% tiền lương) mang. tính tượng trưng. Điều này đã không giúp gì được trong việc bảo trì và nâng cấp các khu nhà ở, khiến cho quỹ nhà ở bị xuống cấp nhanh chóng và gây nhiều thiệt hại lãng phí. Do sự mắt cân đối giữa cung và cầu về nhà ở là rất lớn.
Nhu cầu về nhà ở càng cao song nguồn kinh phí của nhà nước lại càng han hẹp. Còn việc phân phối nhà ở dù có chặt chẽ đến đâu cũng không thể nào đầy đủ, công bằng được. Kết quả là cho đến cuối những năm 80, đầu những năm 90 chỉ có 30%. người được cấp nhà, 70% còn lại phải tự lo lấy nhà bằng nhiều cách khác nhau hoặc sống trong những điều kiện nhà ở cực kỳ khó khăn.
* Giai đoạn 1986 đến năm 1995 Khi chế độ bao cấp mắt dẫn, nhà ở đô thị do dân tự xây hoặc do nhà nước và nhân dân cùng làm đã dần hình thành. Chiến dịch xây dựng nhà bùng nổ, khắp nơi đều xây dựng, giá đất xây dựng ngày một tăng, nhà ở mọc lên như nắm, người dân thành phố đang có gắng tự cải thiện đời sống nhà ở của chính mình. Theo sé liệu của sở nhà đất Hà Nội. Từ năm 1991-1994, Hà Nội sản xuất ra 700.000m2 nhà ở mới (Theo kế hoạch 5 năm sản xuất I triệu m2) trong đó 70% (khoảng 500.000 m2) là do dân tự xây và tỷ lệ này có xu hướng tăng dần năm 1994, 84% nhà ở mới là do dân tự xây.
Như đã chỉ rõ, việc sản xuất nhà ở nước ta thường được phân chia làm 3 10 khu vực, ở Hà Nội, khu vực công cộng chiếm tỷ lệ không lớn và phân bố không đều(18,1%), còn các khu vực tư nhân và bình dân hầu như không kiểm soát nỗi. Các khu ở cũ được tự do cơi nới, các tiêu khu nhà ở Thành công, Trung Tự, Kim Liên, Khương Thượng. Những nhà có mặt đường giao thông đi qua tầng 1 được cơi nới thành các cửa hàng, Các khu ở mới tự do phát triển với hình thức quy hoạch phô biến được áp dụng là nhà chia lô.Các lô đất có diện tích 40 - 80 m2, sau khi được chia thì mạnh ai nấy xây. Các khu ở này trở lại các ô phố như trước thời kỳ trước.
năm 1954, chỉ khác là trang thiết bị hiện đại hơn và mật độ xây dựng lên tới 90%. Nha nọ liền nhà kia, không còn cây xanh, sân chơi. Điển hình là các khu nhà ở Hoang Cầu, Kim Đồng, Bách Khoa. Người ta ganh đua nhau xây dựng, những ngội nhà 3-4 tầng, việc xây dựng riêng lẻ cũng gây lãng phí về vật tư và nhân công đứng trên góc độ toàn khu ở.
Tinh trang nhà vươn theo đường quốc lộ, cao tốc đang là vấn đề nan giải vừa cản trở giao thông, vừa không an toàn cho người ở. Ví dụ nhà dân ở các. trục đường quốc lộ 1A, đường Thăng Long nội bài, đường vành đai Các chung cư xây dựng từ năm 60-65 (Nguyễn Công Trứ, Kim Liên, Trần Quốc Toản.) đã gần hết tuổi thọ, không được xem là căn hộ ở vì thiếu sự khép kín, diện tích khá nhỏ hẹp. * Giai đoạn từ năm 1995 đến nay.
Dưới tác động của kinh tế thị trường mở cửa, Hà Nội đang tiến hành đô thị hóa theo chiều rộng mà biểu hiện rõ nhất là sự mở rộng địa giới hành chính ra các vùng nông thôn xung quanh. Do lõi trung tâm hiện nay đã quá tải về dân số, mật độ xây dựng, trong vài năm vừa qua Hà Nội đã có thêm quận mới thuộc khu vực xung quanh nội thành “Trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, vấn đề phát triển đô thị nói "1 chung và nhà ở nói riêng có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn với thủ đô Hà Nội. Xuất phát từ yêu cầu bức xúc đó, ngày 20/05/1998 thành ủy Hà Nội đã ban hành chương trình số 12 Ctr/TU về phát triển nhà ở Hà Nội đến năm 2010. Trong năm 1998 thành phố đã xây dựng được 339.000m2 nhà ở, đạt 113% kế hoạch năm, tăng 55,4% so với năm 1997 với hơn 30 dự án đầu tư phát triển nhà ở và 15 dự án đầu tư xây dựng các khu đô thị mới (Đầm Trấu, Đại Kim, Định Công.
Ngoài ra một số dự án khác đã góp phần giải quyết nhu cầu về chỗ ở cho người dân như: ~ Dự án ở Giáp Bát có quy mô 6,6 ha, diện tích sàn nhà ở và các công trình dịch vụ là 38.000m2 ~ Dự án nhà ở Đầm Trai, Phương Liệt có quy mô 0.Sha, diện tích sàn nhà ở là 5.500m2 ~ Dự án khu nhà ở 20 Trương Định - Giáp Bát có quy mô 0.9ha, diện tích sàn ở là 13. ~ Dự án khu dịch vụ tổng hợp và nhà ở hồ Linh Đàm huyện Thanh Trì có quy mô 184.09 ha, có 540,000 m2 sản nhà 6. Khu nhà ở Linh Đàm [20] 12 Thye trang nha 6 xa hdi trén dia bàn TP. * Nhu cầu nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội Để có cơ sở xây dựng chương trình phát triển nhà ở của thành phó đến năm.