mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương: Chương1: Cơ sở của việc tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh trong dạy học phần sinh thái học Chương 2. Các biện pháp tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh học trong dạy học phần sinh thái học Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 14 z Chƣơng 1 CƠ SỞ CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TỰ LỰC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN SINH HỌC TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC 1. Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT 1.
Tính tự lực Xét về khía cạnh tâm lý, hầu hết các nhà tâm lý học, giáo dục học đều tán thành quan điểm cho rằng tính tự lực là một phẩm chất trung tâm của nhân cách. Các tác giả theo quan điểm này là I. Leônchiép, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Thạc, Nguyễn Thanh Huyền. Kon cho rằng: tính tự lực là một phẩm chất của nhân cách thể hiện sự không phụ thuộc, khả năng tiếp nhận và ra những quyết định quan trọng, sẵn sàng chịu trách nhiệm về hành vi của mình, tin tưởng rằng những hành vi của mình là đúng và có giá trị xã hội, có thể thực hiện được và phù hợp với đạo lý.
Liublinxkaia cho rằng: tính tự lực là phẩm chất rộng của nhân cách, thể hiện trong các tình huống khác nhau của đời sống xã hội, đảm bảo cho con người giải quyết các nhiệm vụ một cách tự lực bằng các cách thức nhất định. Như vậy, phẩm chất tự lực còn thể hiện phương thức hoạt động mang màu sắc cá nhân, bao hàm cả khía cạnh cá tính của con người trong hoạt động, thể hiện sự khác biệt giữa người này và người khác. 26] Hiện nay các nhà giáo dục học đều khẳng định tính tự lực là một phẩm chất ổn định của nhân cách, có ý nghĩa rộng lớn đối với sự phát triển đời người, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Tính tự lực thể hiện ở sự hợp nhất những biểu hiện cá nhân lên việc mục đích hóa, động cơ hóa bên trong các ngồn lực, phương tiện để thực hiện các chương trình hành động đã lựa chọn, không có sự tham gia từ bên ngoài.
15 z Khi nghiên cứu về xây dựng các biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo năm đến sáu tuổi, tác giả Nguyễn Thanh Huyền đã đưa ra nhận định khái quát về tính tự lực như sau: Tính tự lực là một phẩm chất của nhân cách được hình thành trong quá trình hoạt động, thể hiện mối quan hệ của các cá nhân với các sự vật hiện tượng, với người khác và với bản thân. Nó đặc trưng cho thái độ không phụ thuộc, sẵn sàng chịu trách nhiệm và niềm tin vào năng lực của mình, thói quen tự giác trong việc đặt mục đích, nhiệm vụ và tự điều khiển, kiểm tra bản thân, sử dụng tối đa các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, có sự nỗ lực cao về trí tuệ, thể lực và ý chí nhằm đạt được mục đích đã định nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân và xã hội. Tính tự lực liên quan chặt chẽ đến biểu hiện của tính cực, ý chí, tình cảm và các quá trình nhận thức. Để phát huy tính tự lực con người cần có một số yếu tố sau: - Kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo về các lĩnh vực hoạt động.
- Quan hệ cá nhân tới các thành phần của hoạt động như: mục đích, nhiệm vụ, kết quả, khả năng tự điều khiển và kiểm tra bản thân. - Niềm tin vào sức mình; có tình cảm với kết quả và quá trình tự hoạt động; có sự nỗ lực của ý chí. - Một số phẩm chất: tính tự giác, tính tích cực, tính mục đích, tính kỉ luật. Chúng tôi hoàn toàn tán thành với quan điểm của tác giả và coi đó là một luận điểm quan trọng làm cơ sở nghiên cứu đề tài.
Nhiều đề tài nghiên cứu có sự nhầm lẫn hoặc không phân biệt rõ ràng hai khái niệm tính tích cực và tính tự lực. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, để làm rõ khái niện tính tự lực, chúng tôi xác định khái niệm tính tích cực và mối quan hệ giữa tính tích cực với tính tự lực. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo thì tính tích cực nhận thức là: thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các 16 z chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức. Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động.
Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân. Xét về nguồn gốc thì cả tính tích cực và tính tự lực đều bắt nguồn từ nhu cầu nhận thức. Người học sinh tích cực, tự giác học tập khi bản thân họ có nhu cầu chiếm lĩnh tri thức, nhu cầu tự khẳng định mình hoặc nhu đạt một mục tiêu nào đó trong học tập (thi đỗ chẳng hạn). Từ nhu cầu đó, học sinh sẽ huy động các chức năng tâm lý (nhận thức, tình cảm, ý chí) trong mô hình tâm lý của hoạt động nhận thức để chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng.
Tuy nhiên tính tích cực nghiêng nhiều về mặt tâm lý của hành động, để có tính tích cực nhận thức, học sinh có thể chỉ cần nhu cầu nhận thức. Song để có được tính tự lực trong học tập, bên cạnh nhu cầu, học sinh cần phải có phương pháp học tập, có năng lực và tính tổ chức học tập. Điều đó đảm bảo duy trì tính tích cực trong suốt quá trình học tập cũng như trong các nhiệm vụ học tập thực sự khó. Chính vì vậy có thể nói tính tích cực nhận thức có liên hệ với tính tự lực trong học tập nhưng hai phẩm chất này không đồng nhất với nhau được vì về mặt cấu trúc chúng có sự khác biệt.
Hoạt động học tập tự lực Trước tiên cần xem xét khái niệm hoạt động học. Dạy học là một hoạt động đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, trên cơ sở đó nhằm hình thành và phát triển nhân cách của người học, là sự vận động của một hoạt động kép, trong đó diễn ra cả 2 hoạt động có chức năng khác nhau, đan xen và tương tác lẫn nhau trong một khoảng không gian và thời gian nhất định là: hoạt động dạy và hoạt động học. 89-90] Như vậy, hoạt động học là hoạt động của người học hướng vào đối tượng học (là các kinh nghiệm xã hội), tiếp nhận và chuyển hoá nó, biến thành của riêng, qua đó phát triển nhân cách của chính bản thân mình. 17 z Về hoạt động học tập tự lực, B.Êxipốp đã đề cập đến công tác tự lực của hoạc sinh trong giờ học.
Tác giả viết: “Công tác tự lực của học sinh được đưa vào quá trình dạy học là công tác được không có sự tham gia trực tiếp của giáo viên, nhưng theo bài làm mà giáo viên giao cho trong khoảng thời gian giành riêng cho nhiệm vụ này; ở đây học sinh tự giác vươn tới đích đã vạch ra trong bài, biểu hiện mọi nỗ lực của mình và thể hiện kết quả hoạt động trí tuệ hoặc hoạt động thể lực của mình (hoặc cả hai mặt hoạt động) dưới một dạng nào đó” Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt, thì “tính độc lập hoạt động trí tuệ được thể hiện ở chỗ học sinh tự mình phát hiện vấn đề, tự mình đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết được” [26, tr. 10] Vậy có thể nhận thấy có 2 dạng hoạt động học tập tự lực: (1). Học tập tự lực có hướng dẫn của giáo viên và mức độ cao hơn là (2). Học tập tự lực không có hướng dẫn của giáo viên (hay còn gọi là hoạt động tự học).
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung chủ yếu vào khái niệm thứ nhất là học tập tự lực có hướng dẫn của giáo viên. Từ những khái niệm trên kết hợp với khái niệm về tính tự lực của tác giả Nguyễn Thanh Huyền chúng tôi đưa ra khái niện về hoạt động học tập tự lực như sau: Hoạt động học tập tự lực là hoạt động học tập mà học sinh thực hiện các nhiệm học tập một cách độc lập, sẵn sàng chịu trách nhiệm và tin tưởng vào năng lực của mình; sử dụng tối đa các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo; có sự nỗ lực cao về trí tuệ, thể lực và ý chí để giải quyết các nhiệm vụ học tập; có thói quen tự giác trong việc đặt mục đích, nhiệm vụ và tự điều khiển, kiểm tra bản thân trong quá trình học tập. Theo chúng tôi biểu hiện cụ thể của tính tự lực trong học tập gồm: - Học sinh ý thức được nhu cầu, mục đích học tập của bản thân mình. 18 z - Học sinh có thể tự xây dựng kế hoạch học tập cho bản thân, tự giác thực hiện nghiêm túc kế hoạch.
Có khả năng tự kiểm tra, điều chỉnh kế hoạch của bản thân trong quá trình học tập. - Chủ động đưa ra ý kiến riêng, mạnh dạn tham gia thảo luận, tự tin vào kiến thức của mình. - Huy động tối đa kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để đạt hiệu quả cao trong hoạt động học tập. - Có sự nỗ lực về ý chí để thực hiện các nhiệm vụ học tập.
Tổ chức hoạt động học tập tự lực 1. Lựa chọn phương pháp dạy học Trước hết cần xem xét mối quan hệ bộ ba Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp. Trước đây mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp thường được tiếp cận theo sơ đồ tuyến tính. Mối quan hệ bộ ba Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp dạy học Sơ đồ tuyến tính Sơ đồ tam giác sư phạm Theo sơ đồ tuyến tính, mục tiêu chi phối quyết định nội dung dạy học, nội dung dạy học lại quyết định phương pháp dạy học.
Người ta dựa vào mục tiêu để cấu trúc nội dung dạy học, sau đó lại căn cứ vào nội dung để lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp nhất để giảng dạy hiệu quả những nội dung kiến thức đã lựa chọn.