Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động chơi cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong trường mầm non và đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện và làm tốt hơn việc tôt chức hoạt động chơi theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, tác giả xin được đề cập đến những nghiên cứu về “Quan điểm lấy người học làm trung tâm” trên thế giới và ở Việt Nam từ trước đến nay. Các nghiên cứu trên thế giới Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm (learning – centered approach) được xem là xu hướng trong giáo dục hiện đại ở tất cả các cấp học, kể cả giáo dục mầm non.
Theo chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại đã có nhiều tư tưởng tiến bộ trong giáo dục thể hiện quan điểm “Lấy người học làm trung tâm” , tuy nhiên thuật ngữ “Dạy học lấy người học làm trung tâm” chỉ mới xuất hiện và được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây. - Ở phương Đông: Cách đây 2500 năm trước, Khổng Tử đã áp dụng cách dạy tiến bộ: tùy tài trí từng học trò mà có phương pháp giáo dục khác nhau. Ông rất chú ý đến tính cách, năng lực và trình độ của học trò để có cách dạy phù hợp. Theo ông đối với những người bậc trung trở lên có thể dạy bảo về phần hình nhi thượng, đối với người từ bậc trung trở xuống thì không thể dạy bảo về phần hình nhi vậy (Trần Thị Hương, 2011).
Như vậy dạy học phải hướng vào đặc điểm và năng lực cá nhân của từng người học để có phương pháp dạy học phù hợp, mỗi độ tuổi mỗi trình độ khác nhau thì phương pháp dạy phải khác nhau - Ở phương Tây, từ thời cổ đại, nhà triết học Socrate (469 -339 trước CN) đã đưa ra phương pháp đàm thoại, ông giúp người học phát hiện ra chân lý bằng cách đặt câu hỏi gợi mở để họ dẫn tìm ra kết luận (Trần Thị Hương, 2011). Như vậy việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học đã giúp người học tự tìm ra và chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên là người đặt câu hỏi và hướng người học tới kết luận, tới đích đến của kiến thức, với phương pháp giáo dục như vậy sẽ kích thích người học suy nghĩ nhiều hơn và đưa ra được 8 chính kiến của cá nhân, không rập khuôn theo mẫu của giáo viên. Socrate cũng đã đề cập đến giáo viên cần tôn trọng khả năng trí tuệ và cá tính tự do của mỗi người học (Trần Thị Hương, 2011). Đây là tư tưởng thể hiện quan điểm lấy người học làm trung tâm, dạy học là tôn trọng người học, tôn trọng năng lực cá nhân bởi mỗi người là một cá thể khác nhau, không ai giống ai, tôn trọng những ý tưởng của người học, dựa vào khả năng và nhu cầu người học để xác định nội dung giảng dạy và phương pháp giảng dạy cho phù hợp với họ.
- Đến thế kỷ thứ XVII, nhiều nhà giáo dục tiến bộ đã quan tâm đến việc học lấy người học làm trung tâm. Komensky (1592 – 1679) đã viết “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn”. Bên cạnh đó còn có Rousseau (1712 – 1778), Ông cho rằng người thầy phải dựa vào sự phát triển của học sinh mà giảng dạy để giúp các thiên tính của các em nãy nở. Các quan điểm trên đều có chung quan điểm là quan tâm đến năng lực của người học và dạy học phải phát triển được những năng lực tiềm tàng trong con người họ.
- Đầu thế kỷ XX, ở các nước phương Tây và Mỹ xuất hiện phong trào “nhà trường mới” , nhiều nguyên tắc, phương pháp mới lấy học sinh làm trung tâm. Tiêu biểu cho tư tưởng dạy học “Lấy người học làm trung tâm” thuộc về nhà sư phạm người Mỹ Dewey (1859 – 1952). Ông đưa ra quan niệm: Học sinh là mặt trời xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” và nêu lên khẩu hiệu “Nói, không phải là dạy học, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh” (Phan Trọng Luận, 2007). - Đối với giáo dục mầm non thì quan điểm dạy học lấy trẻ làm trung tâm cũng được vận dụng, đã được nhiều người quan tâm đến lĩnh vực này đề cập đến như: Motessori (1870 – 1952), một bác sĩ nhi khoa người Ý, người đã có nhiều nghiên cứu về trẻ thơ, các lý thuyết của Montessori về trẻ em có 9 ảnh hưởng lớn đến các chương trình giáo dục mầm non hiện nay.
Bà cho rằng việc của giáo viên là chuẩn bị môi trường, cung cấp những vật dụng cần thiết, sau đó lùi ra sau dành cho trẻ thời gian và không gian để trãi nghiệm. Như vậy quan điểm lấy trẻ làm trung tâm đã được thể hiện rõ: trẻ - chủ thể tích cực hoạt động, giáo viên – là người tổ chức môi trường cho trẻ hoạt động. Theo Montessori môi trường phải đẹp, ngăn nắp trật tự, đồ dùng vừa kích cỡ trẻ và mang tính cảm giác trực quan (Mooney, 2013). Hầu hết các chương trình mẫu giáo ở Mỹ đều có nội thất và đồ dùng vừa kích cỡ trẻ em.
Theo cách của Montessori thì các giáo viên cần hiểu môi trường tốt dành cho trẻ cần có những tiêu chí sau: + Cung cấp các công cụ thật sự có thể dùng được như dao sắc, kéo tốt, các đồ dùng bằng gỗ và công cụ lau dọn. + Để các vật dụng và thiết bị làm việc ở nơi trẻ có thể lấy được dễ dàng và sắp xếp sao cho trẻ có thể tìm và cất những gì trẻ cần. + Tạo nên sự đẹp đẽ và trật tự trong lớp học. Như vậy quan điểm dạy học lấy trẻ làm trung tâm không chỉ quan tâm đến đặc điểm, năng lực cá nhân của trẻ và có phương pháp dạy học phù hợp mà còn là tạo cho trẻ môi trường tốt, để kích thích trẻ tích cực hoạt động, điều đó có thể thấy được qua các tiêu chí mà Maria Montessori đề ra khi xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động.
Tuy nhiên việc xây dựng môi trường hoạt động thể hiện quan điểm lấy trẻ làm trung tâm của Maria Montessori có sự khác biệt với quy định về an toàn khi sử dụng đồ dùng, đồ chơi cho trẻ mầm non (theo qui định tại Thông tư số 18/2009/TT-BKHCN, ngày 26 tháng 6 năm 2009 của Bộ trưởng khoa học và Công nghệ về việc ban hành và thực hiện “Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về an toàn đồ chơi trẻ em” và hợp vệ sinh): “Bà cho rằng trẻ cần những công cụ thật (real tool) nếu chúng làm những công việc thực tế (real work) hấp dẫn chúng. Trong các trường 10 mầm non của chúng ta, trẻ thường phải cắt giấy với những cây kéo cùm hoặc cắt rau bằng những con dao nhựa để chúng không bị thương. Thật không may những dụng cụ cùn này lại làm cho những nhiệm vụ đơn giản đó trở nên khó khăn” (Carol Garhart Mooney, 2013). Montessori tin rằng trẻ hoàn toàn có thể học cách sử dụng công cụ sắc bén đó một cách an toàn, còn việc cho các em những công cụ không thực sự dùng được lại làm cùn mòn năng lực của các em.
- Theo lý thuyết của J.Piaget (1896 – 1980), Ông cho rằng trẻ học tốt nhất khi được tự mình làm việc một cách thực sự và kiến tạo nên sự hiểu biết cho riêng mình về những gì đang diễn ra thay vì nhận lấy những diễn giải mà người lớn đưa ra. Những tương đồng giữa lý thuyết của J.Dewey rằng trẻ học tốt nhất thông qua hoạt động thực tế và vai trò của người lớn là bồi dưỡng những động cơ bên trong của đứa trẻ, tạo cho trẻ những hứng thú tích cực khi tham gia hoạt động (Collete Gray & Macblain, 2014). Cả Dewey và Piaget đều tin rằng một thầy giáo: Một thầy giáo tập trung vào đứa trẻ là một người hướng dẫn và bố trí môi trường, hơn là một thầy dạy. Tất cả những lý thuyết này đều tin rằng giáo viên nên cung cấp những tài liệu và những hoạt động tạo điều kiện cho đứa trẻ tiến bộ từ trãi nghiệm và khám phá.
- Trong các nguyên tắc giáo dục Reggio Emilia của Loris Malaguzzy cũng nổi bậc rõ quan điểm lấy trẻ làm trung tâm: + Trẻ phải được tham gia kiểm soát định hướng học tập của mình. + Trẻ phải được học thông qua trãi nghiệm (tiếp xúc trực tiếp, di chuyển – làm biến đổi đối tượng, lắng nghe và quan sát). 11 + Trẻ phải có mối quan hệ với những trẻ khác và những thành phần vật liệu của thế giới mà trẻ khám phá. + Trẻ phải sử dụng vô hạn các cách thức, cơ hội để thể hiện chính mình.
- Trong cuốn sách “Các lý thuyết về trẻ em của Dewey, Montessori, Erikson, Piaget, Vygotsky” của Mooney, đã cho rằng: “Lý thuyết của Vuwgotsky cho rằng phát triển là quá trình mang tính tương tác đã thay đổi cách nghĩ của chúng ta về quá trình học tập của trẻ. Đối với giáo viên quan điểm cho rằng, trẻ có thể trợ giúp lẫn nhau trong học tập là quan điểm quá thoáng. Họ không tin rằng đôi khi sự can thiệp của họ trong quá trình trẻ làm việc nhóm đã phá vỡ những cơ hội tuyệt vời để trẻ học hỏi lẫn nhau, khi mà họ bắt trẻ phải xếp vòng tròn chỉ để ngồi và lắng nghe họ nói”. Vygotsky đã giúp giáo viên nhận ra rằng trẻ không chỉ học bằng việc làm mà còn học qua trò chuyện, qua làm việc cùng bạn bè và sẽ tiếp tục trao đổi khi trẻ “nắm được vấn đề”.
Nhằm hổ trợ việc học mang tính tương tác xã hội của trẻ, giáo viên có thể tạo ra rất nhiều cơ hội cho trẻ để các em có thể trợ giúp bạn khác hoặc có thể làm việc theo những dự án mà các em lựa chọn. Như vậy đã từ lâu quan điểm lấy người học làm trung tâm có nghĩa là đặt người học ở vị trí trung tâm của quá trình dạy học, xem cá nhân người học – với những phẩm chất và năng lực riêng của mỗi người – vừa là chủ thể, vừa là mục đích của quá trình đó, với sự trợ giúp của các phương tiện, thiết bị dạy học để người học tự chiếm lĩnh kiến thức và phát huy tối đa những năng lực tiềm ẩn sẵn có của của mỗi cá nhân.