Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Kĩ năng tự bảo vệ đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam quan tâm. Có thể kể đến các nghiên cứu sau: Cheryl Poche và cộng sự (2011) về “ Teaching self -protection to young children” Journal of Applied Behavior Analysis. Summer; Thông qua việc dạy cho trẻ em mẫu giáo kỹ năng tự bảo vệ trước nguy cơ bị bắt cóc, nghiên cứu đã cho thấy tất cả trẻ em ban đầu có nhạy cảm với những tình huống giả định.
Sau 1 tuần, tất cả trẻ đã có phản ứng thích hợp với tất cả tình huống giả định cả trong nhà trường và ngoài xã hội. Poche và cộng sự (2016) trong bài “Teaching self -protection to children using television techniques”, Journal of Applied Behavior Analysis. Nghiên cứu chứng minh được các video dạy kỹ năng tự bảo vệ sẽ hiệu quả với các học sinh mẫu giáo và cấp 1 đối phó với tình huống bắt có giả định. Hơn ½ trẻ em được đào tạo đã có hiệu quả trong khi ¾ số trẻ không được đào tạo đã đi theo người đóng vai kẻ bắt cóc.
Tác giả Mark Watson và cộng sự (2012) trong bài “A Preliminary Study in Teaching Self-Protective Skills to Children with Moderate and Severe Mental Retardation” lại quan tâm đến dạy kỹ năng tự bảo vệ trẻ chậm phát triển trí tuệ. Bằng cách xây dựng ba môi trường tự nhiên với sự hỗ trợ của những người bạn có kinh nghiệm hướng dẫn kỹ năng tự bảo vệ cho 7 học sinh chậm phát triển trí tuệ. Nghiên cứu chỉ ra rằng với các cá nhân chậm phát triển trí tuệ việc đào tạo tự bảo vệ theo nhóm sẽ có hiệu quả hơn là cho cá nhân hoặc tập thể. Trong dự án “Trẻ em và môi trường gia đình” của UNESCO năm 1990 - 1995 tập trung vào những nội dung có ý nghĩa quan trọng đến trẻ em như dinh 7 dưỡng, kích thích trẻ phát triển toàn diện, nuôi dạy trẻ an toàn nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh, loạn lạc, trẻ khuyết tật bằng cách huy động mọi tài nguyên hiện đại, truyền thống nhằm giúp trẻ tự tin, phát triển năng lực bản thân sau này.
UNICEF và UNESCO đã triển khai nhiều chương trình như “Phòng tránh tai nạn thương tích”, “Bạn hữu trẻ em” thực hiện các chương trình trong khuôn khổ được nước ngoài quan tâm tài trợ giai đoạn 2016-2020. Các dự án này đã được triển khai thí điểm ở một số tỉnh thành như: Điện Biên, Đồng Tháp, Ninh Thuận, TP. Hồ Chí Minh để giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại, tai nạn thương tích và cách ứng xử trước mọi cám dỗ trong cuộc sống; các kỹ năng tự bảo vệ bản thân, quản lý cảm xúc. “Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và biện pháp khắc phục” năm 2015 TS.
Dương Tuyết Miên, giảng viên khoa Luật Hình sự, trường Đại học Luật, Quảng Ninh có một nghiên cứu được đăng tải trên Đặc san về Bình đẳng giới, tạp chí Luật học. Trong bài viết, tác giả đã phân tích những tổn hại về tinh thần mà nạn nhân của tội hiếp dâm gặp phải. Ngoài sự đau đớn về thể xác cũng như những nguy cơ bị lây nhiễm các bệnh tình dục, HIV/AIDS,…những nạn nhân của tội hiếp dâm còn bị tổn thương nghiêm trọng về mặt tinh thần mà shock chỉ là một phần trong số ít các biểu hiện. Tác giả đã trích dẫn những kết quả nghiên cứu của Patricia A Resick, sau khi bị hiếp dâm thì có 96% nạn nhân đã rơi vào trạng thái hoang mang, lo lắng, hoảng sợ, thường hay giật mình; 92% rơi vào trạng thái sợ hãi, có những rối loạn tâm lý, có vấn đề trong điều chỉnh hành vi xã hội và hậu quả để lại là không thể phủ nhận, đặc biệt với những bé gái bị chính người thân trong gia đình xâm hại [27].
Giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ có thể kể đến một số các nghiên cứu sau: Tác giả Miltenberger (2018) có nghiên cứu “Teaching Safety Skills to Children: Prevention of Firearm Injury as an Exemplar of Best Practice in Assessment, Training, and Generalization of Safety Skills”, Journal of Applied 8 Behavior Analysis. 1(1): 30-36 lại quan tâm đến đào tạo kỹ năng cho trẻ em với mục đích ngăn ngừa thương tích do súng đạn gây ra. Công trình có một số khuyến nghị để hướng dẫn thực hành tốt nhất trong việc giáo dục kỹ năng an toàn cho trẻ em [36]. Tác giả Alaina Brenick và cộng sự (2014) trong bài “Empowering children with safety-skills: An evaluation of the Kidpower Everyday Safety- Skills Program”, Children and Youth Services Review Vol 44, 152-162.
Bài báo đánh giá chương trình kỹ năng an toàn hàng ngày cho trẻ em (ESSP) với trẻ mẫu giáo và học sinh tiểu học cho thấy, chương trình đã thành công với kết quả thể hiện sự trung thực cao, tỷ lệ tự bảo vệ bản thân của học sinh đã được cải thiện thông qua các yếu tố ranh giới, an toàn với người lạ, tìm kiếm sự giúp đỡ, duy trì sự bình tĩnh và tự tin [34]. Tác giả Nguyễn Thị Nga (2012) có tên “Giúp bé có kỹ năng nhận biết và phòng tránh một số nguy cơ không an toàn”, NXB Dân trí đã đưa ra 9 tình huống dễ xảy ra trong giáo dục để cha mẹ, giáo viên xây dựng kỹ năng cho trẻ em. Đề tài nghiên cứu “Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam” do tác giả Nguyễn Thanh Bình đã khái quát những kỹ năng sống đặc thù với từng lứa tuổi trong đó có trẻ mầm non có kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương thích. Đề tài đã khái quát nội dung giáo dục kỹ năng cho trẻ trẻ mầm non.
Đề tài của tác giả Mai Hiền Lê (2020) viết về “Kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mầm non thực hành TP. Hồ Chí Minh” cho thấy một số kỹ năng tự bảo vệ an toàn của trẻ mầm non ở đây còn ở mức độ thấp [19]. Trong quản lý giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ, có thể kể đến một số nghiên cứu sau: Yoon Yeo Hong (2015), “45 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình”, NXB Thông tin và truyền thông. Cuốn sách trình bày nội dung lý thuyết cũng như thực hành giúp trẻ nhận biết những nguy hiểm, nâng cao cảnh giác và bảo vệ an toàn cho bản thân, đồng thời cũng có những hướng dẫn trẻ đối phó, thoát khỏi nhưng nguy hiểm tạm thời [33].
9 Nghiên cứu “Teaching personal safety skills to young children” của các tác giả Wurtele và Owens, Colorado Springs, CO University, USA. Các tác giả đã nghiên cứu trên 406 trẻ mẫu giáo nhằm xác định về mức độ kỹ năng an toàn cho bản thân, phòng chống lạm dụng cho trẻ [42]. Tác giả Phan Tú Anh (2017) với Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”, Trường Đại học sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.
Luận văn đã “khảo sát thực trạng về nhận thức, thực hiện giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, sử dụng các biện pháp giáo dục, phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non số 6, huyện 3, TP. Hồ Chí Minh”. Luận văn có những giải pháp để giáo dục bảo vệ [1]. Tác giả Nguyễn Thị Xuân Hương (2020) có bài báo “Thực trạng và biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non tại tỉnh Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình”, Tạp chí Giáo dục số 482 (2/2020), 43-48.
Tác giả nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng tự bảo vệ của trẻ mẫu giáo trên địa bàn TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình đồng thời đề xuất những biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ hiệu quả [17]. Qua đó có thể thấy rằng, nhiều nghiên cứu về giáo dục kỹ năng bảo vệ cho trẻ em nói chung và trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nói riêng đã được quan tâm triển khai, cả trong và nước ngoài nhưng cơ bản tập trung vào vấn đề giáo dục kỹ năng tự bảo vệ. Những nghiên cứu dưới góc độ quản lý còn thiếu vắng, nhất là dưới hình thức một luận văn thạc sĩ.
Chính vì vậy, đề tài đảm bảo tính khoa học, logic. Các khái niệm công cụ của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm đa nghĩa và được giải thích dưới nhiều giác độ khác nhau. Giáo trình khoa học quản lý đại cương định nghĩa: “quản lý là hoạt động thực tiễn đặt biệt, là sự tác động của con người tới con người để thực hiện được những mục tiêu chung của tổ chức” [20, tr.
10 Lý thuyết quản lý theo khoa học của Frederick W.Taylor định nghĩa: “Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước” [37]. Hay tác giả Trần Kiểm cho rằng “quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [18, tr. Quản lý Nhà trường Theo tác giả M.Kondacov đã khái quát “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường là một hệ thống xã hội- sư phạm chuyên biệt). Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội- kinh tế, tổ chức- sư phạm của quá trình dạy- học và GD thế hệ đang lớn lên” [37, tr.
Tác giả Phạm Minh Hạc đã xác định: “quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS” [12]. Tác giả Thái Duy Tuyên nêu: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục- đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [29, tr.