Chương I: Giáo dục học là một khoa học Chương II: Giáo dục và sự phát triển nhân cách Chúng tôi hy vọng rằng qua sự nghiên cứu trên sẽ là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo của các chương, các học phần kế tiếp và đóng góp một phần vào sự đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học môn GDH ở các trường sư phạm trong giai đoạn hiện nay và sau này. Cơ sở khoa học của phân hoá trong dạy học 1. Cơ sở triết học Phân hóa giáo dục là sự thể hiện của phạm trù cái chung và cái riêng trong các hoạt động giáo dục, nó biểu hiện tính chất phổ biến và cá biệt vốn được coi như hai mặt đối lập nhưng thống nhất trong sự vận động của chỉnh thể giáo dục. Xét từ các luận điểm của các nhà duy vật biện chứng về con người - một vấn đề cơ bản của triết học Macxit thì con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội.
Mặt tự nhiên được quy định bởi các yếu tố sinh học, tạo nên các yếu tố sinh thể đa dạng, không đồng nhất cho các cá thể người. Theo đó, mỗi người là một thế giới tự nhiên khác biệt nhau về tố chất: thể lực, tính cách. Mặt xã hội làm nên chất người, được tạo thành bởi một hệ thống các quan hệ xã hội, các quan hệ đó được chế ước bởi những hoàn cảnh xã hội cụ thể. Mỗi cá nhân là chủ thể của một hệ thống các mối quan hệ xã hội phong phú và đa dạng, do đó có bộ mặt nhân cách riêng, có một thế giới tinh thần mang tính riêng độc đáo, không ai giống ai.
Đi từ luận điểm cơ bản ấy, triết lý phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa đã được những nhà sáng lập chủ nghĩa Marx nhấn mạnh trong “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”(1848): Phát huy cao nhất năng lực của 1 7 mỗi cá nhân, rằng sự phát triển của từng người là điều kiện cho sự phát triển cho mọi người. Tư tưởng nhân văn trong luận điểm triết học trên được phản ánh rõ nét vào trong giáo dục đào tạo. Một nền giáo dục nhân văn đòi hỏi mục tiêu giáo dục phải toàn diện, nội dung giáo dục phải thiết thực, đa dạng và tương thích với từng loại đối tượng, cấu trúc của nó phải mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với yêu cầu và điều kiện của người học. Nhân văn hoá giáo dục được thực hiện bằng cách cá nhân hoá nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục, làm cho chúng có cấu trúc phù hợp với trình độ và kinh nghiệm, hứng thú và khuynh hướng nhân cách của mỗi các nhân người học, từ đó tạo điều kiện để họ phát triển một cách tốt nhất.
Vì vậy, yêu cầu khách quan được đặt ra không nên và không thể đồng nhất cá nhân với cộng đồng xã hội. Con người là đối tượng giáo hóa của giáo dục, rất cần được phân hóa theo các hệ tiêu chí khác nhau để từ đó có cách tác động để giáo hóa có hiệu quả. Cơ sở xã hội học và xã hội học giáo dục Trong quá trình tồn tại và phát triển của bất cứ xã hội nào, con người bao giờ cũng sống thành nhóm, đây là một hiện tượng mang tính quy luật của xã hội. Một xã hội hiện đại là một xã hội phân hoá cao và chuyên môn hoá cao.
Chuyên môn hoá cao đồng nghĩa với việc đào tạo nghề chuyên môn, nghề hẹp ở trình độ tiên tiến. Nét đặc trưng của giáo dục hiện đại là phân hoá cao trong sự thống nhất của một chỉnh thể giáo dục. Sự thống nhất được thể hiện ở chỗ mọi hoạt động đều phải hướng tới mục đích cuối cùng của giáo dục đó là: Tạo cơ hội cho mọi người có trình độ xuất phát, có năng lực, hoàn cảnh, điều kiện khác nhau đều được tiếp cận giáo dục, là tạo cơ hội cho mọi cá nhân phát triển cao nhất các năng lực trội của mình để thành đạt trong học đường và cuộc sống, là tạo nguồn lao động chất lượng cao, nhanh chóng thích ứng được với sự phân 1 8 công lao động trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Đây cũng chính là lý do chính để xã hội làm giáo dục và cần phân hoá giáo dục để nâng cao chất lượng hiệu qủa trong đào tạo.
Đó cũng là lý do để mỗi cá nhân vượt khó, tự giác, tích cực học tập trong các điều kiện hoàn cảnh khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn. Đối tượng của các hoạt động, các quá trình giáo dục là người và tập thể con người. Tập thể học sinh thực chất là một loại nhóm xã hội, lại được phân hóa thành nhiều nhóm nhỏ với các kích cỡ khác nhau, với những dấu hiệu xã hội khác nhau về: Khả năng, năng lực, nhu cầu và hứng thú, sở thích và nguyện vọng. Phân hóa giáo dục là sự thể hiện công bằng xã hội trong giáo dục.
Bởi lẽ ở đó, người học được chia thành các nhóm khác nhau về: Hoàn cảnh, thể lực, khả năng, nhu cầu … để cung ứng những dịch vụ giáo dục phù hợp nhằm phát triển cao nhất những năng lực bản thân. Phân hóa giáo dục là hoàn toàn phù hợp với những quy luật xã hội học giáo dục. Cơ sở tâm lý học Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não thông qua chủ thể. Vì vậy, tâm lý người luôn mang tính xã hội, lịch sử và tính chủ thể.
Cùng một hiện tượng khách quan tác động vào các chủ thể khác nhau sẽ cho ta hình ảnh tâm lý khác nhau và cùng một hiện tượng khách quan tác động vào cùng một chủ thể trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau cũng cho ta hình ảnh tâm lý khác nhau. Do vậy, không có cá nhân nào đồng nhất với nhau hoàn toàn về mặt tâm lý và trình độ phát triển tâm lý của mỗi cá nhân là khác nhau nó phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Từ góc độ sinh lý thần kinh, các nhà tâm lý học đã chia thần kinh người làm 4 loại cơ bản: Bình thản, ưu tư, hoạt bát và nóng nảy. Eysenok cho rằng: Nhân cách con người phụ thuộc vào các loại thần kinh và được bộc lộ qua các đặc điểm tính cách, thể hiện qua các xúc cảm qua cường độ, tốc độ của thái độ hành vi.
Dựa trên các đặc điểm tính cách, ông phân chia nhân cách thành 1 9 loại hướng nội và hướng ngoại. Sự phân chia này chỉ mang tíng tương đối bởi vì thông qua giáo dục và tự giáo dục sẽ dẫn đến sự điều chỉnh thái độ hành vi trong quá trình tiếp nhận giáo dục và tự giáo dục của cá nhân. Sự phân hoá giáo dục dựa trên những đặc điểm tính cách có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển mục đích, động cơ, hứng thú và định hướng nghề nghiệp của học sinh. Các thành tựu nghiên cứu mới về não người đã xác định được chức năng tâm lý của các bán cầu não trái và phải, các thuỳ trong bộ não có liên quan đến thị giác, ngôn ngữ, các phẩm chất tư duy logic, tư duy không gian.
Đây là cơ sở để H.Gardner xây dựng lý thuyết về “Nhiều dạng trí khôn”. Tư tưởng cốt lõi của lý thuyết này là thừa nhận năng lực người có các dạng trí khôn khác nhau. Các dạng trí khôn không nhất thiết bộc lộ tất cả ở một con người. Ở mỗi người có thể có các loại trí khôn bộc lộ nổi trội, có loại mờ nhạt hơn.
Thiếu đi một số dạng trí khôn, cá nhân vẫn có thể thành đạt nhờ các dạng trí khôn nổi trội của mình. Ví dụ: Nếu có trí khôn logic, cá nhân có thể vượt xa trong lĩnh vực tư duy logic toán mà không nhất thiết phải cần đến loại trí khôn âm nhạc hay trí khôn tri giác vận động … Từ đây có thể rút ra kết luận: Các loại đối tượng học sinh đều có thể thành đạt trong học đường và cuộc sống nếu các nhà giáo dục sớm phát hiện và tạo cơ hội cho cá nhân phát triển các loại trí khôn vượt trội của mình. Điều quan trọng hơn là các nhà giáo dục cần thấy được thế mạnh của các dạng trí khôn ở mỗi cá nhân để không đặt ra các đòi hỏi nhiều hơn cái mà cá nhân có thể có. Đây là cơ sở khoa học cho sự phân hoá cá nhân, đồng thời là cơ sở để tư vấn cho học sinh khi phân luồng, hướng nghiệp và tự chọn trong phân hoá giáo dục.
Cơ sở giáo dục học Xuất phát từ chức năng của giáo dục xét đến cùng là chức năng phát triển. Cứu cánh của giáo dục là giúp mỗi cá nhân phát triển và trên cơ sở đó tạo ra động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Mục tiêu mà sự nghiệp giáo dục đào tạo hướng tới là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài 2 0 trên nền tảng xây dựng nhân cách. Theo đó, cá nhân chỉ có thể có sự phát triển tối đa khi nhà giáo dục và hệ thống giáo dục đáp ứng những khả năng, những nhu cầu, nguyện vọng bằng một chương trình, nội dung và một cách thức phù hợp.
Tương tự như thế, xã hội sẽ có điều kiện phát triển tốt hơn nếu nguồn nhân lực được đào tạo theo định hướng phân hóa, phù hợp với cơ cấu lao động xã hội và định hướng phát triển của từng loại ngành nghề khác nhau, từ đó đáp ứng những nhu cầu phát triển của thời kỳ CNH - HĐH và hội nhập quốc tế. Xuất phát từ bản chất và mục tiêu giáo dục, lý luận giáo dục học dù ở phương đông hay phương tây, dù ở thời đại nào cũng đều nhất quán nguyên tắc “tính phù hợp” cho các hoạt động dạy học và giáo dục. Nguyên tắc này thể hiện rõ tư tưởng về dạy học phân hóa và được phát biểu khá nhất quán “đảm bảo tính vừa sức chung và vừa sức riêng trong dạy học”. Tinh thần phân hóa giáo dục đã được chuyển thành tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, thể hiện trong các chủ trương, chính sách quốc gia.
Chiến lược giáo dục đào tạo đến năm 2010 của Chính phủ đã xác định một trong những mục tiêu của giáo dục đào tạo là: “Mở rộng quy mô đi đôi với coi trọng chất lượng giáo dục đào tạo và hiệu quả sử dụng, đáp ứng nhu cầu nhân lực trước mắt và lâu dài của sự nghiệp CNH - HĐH, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi tầng lớp nhân dân, tiến tới một xã hội học tập”.