phần mở đầu và kết luận, phụ lục và TLTK, luận văn gồm ba chương. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Ngoài nước Khi nghiên cứu về DHKH để xác định được mối tương quan giữa E-learning và F2F tác giả đã nghiên cứu đến các cách thức tiếp cận quá trình học tập của người dạy và người học.
Tác giả nhận thấy, “dạy học giáp mặt – Face to Face (F2F)” với những nhiệm vụ học tập liên quan đến thực hành, thí nghiệm, và những nội dung cần đến sự trải nghiệm thực tế đều có sự tương tác trực tiếp. Một cách mở rộng vấn đề tiếp cận đó là thông qua học E-learning HS tự học và giải quyết được các vấn đề đơn giản trước khi đưa ra những câu hỏi ở mức cao hơn đối với GV. Việc hướng dẫn HS học để giải quyết các vấn đề thực tiễn có vai trò rất lớn từ phía giáo viên, người hướng dẫn (có tính hệ thống) hoặc xuất phát từ nhu cầu của người học (không có tính hệ thống) để HS đạt được đến đích chung. Sự tương đồng giữa sáu mô hình DHKH nêu trên phản ánh mối quan hệ giữa hai hình thức dạy học (dạy trực tiếp (F2F) và dạy trực tuyến (E-learning)) ở cấp độ vi mô, nhưng mức độ và tỉ lệ giữa dạy học trực tiếp và giảng dạy trực tuyến khác nhau.
Về cơ bản, B-learning là hướng dẫn học đa phương thức, đa định dạng và đa công cụ hướng tới một quá trình cá nhân hóa cao cho việc học của học sinh. Trong nước Ở Việt Nam, từ cơ sở dữ liệu khoa học từ nhiều nguồn khác nhau, tác giả đã chọn ra 140 bài báo tiêu biểu từ năm 2002 đến nay, trong đó chỉ có khoảng 30 bài có đầy đủ tiêu chí phân tích, đánh giá theo các tiêu chí bắt buộc do nghiên cứu đặt ra [6,7 , 8,9]. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế: do liên quan đến cơ sở vật chất như mạng kết nối, quản lý hệ thống máy chủ, hiểu biết về các công cụ trực tuyến còn ít, hạn chế về băng thông hay lỗi mạng v. ảnh hưởng xấu đến việc sử dụng B-learning.
Đây cũng chính là hạn chế của giáo dục Việt Nam, quen với cách học thụ động nên khả năng thích ứng chậm, chưa theo kịp trào lưu, xu hướng khai thác công nghệ cao trên thế giới. Tất cả các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu lý thuyết và đề xuất các giải pháp có thể áp dụng ở quy mô nhỏ. Bên cạnh đó, số lượng các công trình nghiên cứu ứng dụng dạy học B-learning vào từng phần cụ thể của từng môn học còn rất hạn chế, đặc biệt là nghiên cứu về vật lý ở bậc trung học. Dạy học kết hợp (B-learning) Kết hợp các hình thức DH là bước mới nhất trong lịch sử lâu dài của DH dựa trên công nghệ.
Khái niệm dạy học kết hợp ra đời với mục đích kết hợp ưu điểm của dạy học trực tiếp và sử dụng thế mạnh của CNTT, đặc biệt là chương trình của MS Office 365. Với hình thức học này, người dạy và người học sẽ có hướng tiếp cận môn học theo hướng toàn diện hơn. Khái niệm B-learning là tên viết tắt của “Blended Learning” (BL). “Blended” có nghĩa là pha trộn, kết hợp hoặc hỗn hợp.
Blended Learning có nghĩa là học tập hỗn hợp hay học tập kết hợp. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về mô hình này và mô hình đã được áp dụng rộng rãi từ các trường tiểu học cho đến các trường đại học, tiêu biểu như: Rocketship Public Schools, KIPP LA Schools, Summit Public Schools (Bernatek, Cohen, Hanlon, & Wilka, 2012), School District of Philadelphia (Beaver, Hallar, Westmaas, & Englander, 2015) … Có nhiều cách định nghĩa về mô hình BL, theo Stacker và B. Horn thì: BL là một chương trình giáo dục mà ở đó HS học một phần nội dung bài học theo dạng trực 7 tuyến và một phần nội dung bài học theo dạng truyền thống, mặt đối mặt (Staker, 2011; Staker & Horn, 2012). Tác giả Garrison đã định nghĩa: BL là một phương pháp được thiết kế để tích hợp các điểm mạnh của học tập trực tiếp và trực tuyến (Garrison & Vaughan, 2007).
Ở Việt Nam, đã có các nghiên cứu về mô hình BL song vẫn còn khá ít. Như vậy, khái niệm về mô hình BL được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng chung quy lại B-learning là mô hình dạy học kết hợp giữa dạy học truyền thống (mặt đối mặt) và dạy học trực tuyến (E-learning). “B-learning là sự tiến hóa hợp lí và tự nhiên nhất trong tiến trình học tập” (Trần Huy Hoàng & Nguyễn Kim Đào, 2014), nó phát huy các ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của hai cách dạy học nói trên. Theo Carman, mô hình BL được thiết kế dựa vào lý thuyết học tập của Keller, Gagné, Bloom, Merill, Clark và Gery, trong đó có 3 lý thuyết cốt lõi bao gồm: thuyết nhận thức (Cognitivism), thuyết kiến tạo (Constructivism) và sự hỗ trợ thực hiện (Performance Support).
“Đó là những lý thuyết vừa phản ánh lịch sử phát triển, vừa mang tính xu hướng của thời đại, có thể vận dụng hiệu quả trong giáo dục người lớn” (Đỗ Thế Hưng & Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014) [8]. Tất cả các lý thuyết trên cùng kết hợp với nhau tạo nên lý thuyết về mô hình B-learning. Lý thuyết mô hình B-learning 1. Một số mô hình dạy học kết hợp Dựa vào những phân tích của nhóm H.
Staker và cộng sự về DH kết hợp [17], nhóm của M. Horn và cộng sự đã đề xuất sáu mô hình DH kết hợp. Sau đó, hai 8 tác giả chính là H. Horn đã hợp nhất và đơn giản hóa thành bốn mô hình DH kết hợp [18], cụ thể: Với từng nội dung, người học được lựa chọn phương pháp học phù hợp nhất, với những sự hỗ trợ phương tiện tối ưu để đảm bảo kết quả và hiệu quả cao nhất.
Điều kiện thực hiện mô hình dạy học kết hợp Để thực hiện được mô hình dạy học kết hợp, cơ sở giáo dục cần đảm bảo các điều kiện sau: - Có thiết bị học tập thông minh: Người học và người dạy đều có đủ các thiết bị học tập thông minh để có thể tham gia các lớp học trực tuyến. - Có Internet: Hoạt động giảng dạy trực tuyến sẽ diễn ra qua Internet, vì vậy cần đảm bảo đường truyền ổn định, không gây ảnh hưởng đến trải nghiệm học tập và giảng dạy của các thành viên trong lớp. - Cơ sở hạ tầng hiện đại: Cơ sở giáo dục sẽ cần có một số công cụ tối thiểu để xây dựng một lớp học có mô hình dạy kết hợp như màn hình tương tác thông minh, máy chiếu, hệ thống âm thanh, máy tính,… - Các phần mềm quản lý đánh giá hiện đại, thông minh, thân thiện: Cần sử dụng một số phần mềm để đánh giá mức độ tương tác của người học, đồng thời chịu trách nhiệm thống kê kết quả để đánh giá hiệu quả học tập của từng người. Các hình thức dạy học kết hợp Việc kết hợp giữa DH giáp mặt và DH trực tuyến được thể hiện ở nhiều hình thức và mức độ khác nhau.
Tổng quan từ nhiều nguồn tài liệu về DH kết hợp khác theo, Charles R. Graham đã cho thấy có 3 loại hình kết hợp của B-Learning phổ biến nhất là: 1- Kết hợp các phương thức DH (hoặc các phương tiện truyền tải); 2- Kết hợp các PPDH; 3- Kết hợp hướng dẫn trực tiếp và hướng dẫn trực tuyến [19]. Từ những nghiên cứu của Tôn Quang Cường và Phạm Kim Chung [10], Ninh Thị Hạnh [11], H. Staker và cộng sự [20]; căn cứ vào mục tiêu DH, căn cứ vào thực tế DH cũng như nhu cầu của HS về TH, chúng tôi đề xuất có bốn hình thức DH kết hợp tương ứng như sau: 10 1.
Nguyên tắc thiết kế nội dung dạy học kết hợp Để thiết kế nội dung DHKH đạt hiệu quả cần dựa trên những nguyên tắc và tiêu chí như sau: Hình 1. Các nguyên tắc dạy học theo DHKH 11 1. Các giai đoạn vận dụng mô hình DHKH (B-learning) để phát triển NLGQVĐ cho HS ở trường THPT Để NLQGVĐ của HS được phát triển một cách tối đa, ngoài việc HS phải tự học, tự nghiên cứu thì sự giúp đỡ của GV đóng góp một phần không thể thiếu trong quá trình ấy. Để phù hợp với nội dung của đề tài, chúng tôi tổ chức lại các giai đoạn vận dụng mô hình DHKH để phát triển NLQGVĐ môn Vật lí cho HS THPT như sau: Giai đoạn 1: HS tự học ở nhà Bước 1: HS tự hoàn thành nhiệm vụ bài cũ HS tự hoàn thành nhiệm vụ bài cũ theo lời dặn dò của GV trên lớp học.
GV có nhiệm vụ cung cấp nội dung kiểm tra bài cũ ở dạng trắc nghiệm hoặc tự luận, sử dụng công cụ trong O365 như Form hoặc các công cụ tích hợp được với Teams như Quizizz, Azota…. Bước 2: HS tự tìm hiểu bài mới dưới sự hướng dẫn của GV GV cung cấp các video bài giảng liên quan đến nội dung bài học để HS tự tìm hiểu và tiếp thu kiến thức mới. Bên cạnh đó, GV phải thiết kế các câu hỏi củng cố nhằm kiểm tra mức độ tiếp thu kiến thức của HS và được cập nhật trên Teams. Trong quá trình tìm hiểu nội dung bài mới HS có thể ghi lại những nội dung chưa hiểu để hỏi GV khi đến lớp hoặc có thể đăng trực tiếp lên diễn đàn học tập trên Yammer hoặc Teams.
Giai đoạn 2: Tổ chức dạy học trên lớp Bước 3: Tổ chức thảo luận dưới sự HD của GV Ở bước này, GV có thể vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để tổ chức cho HS tự học. Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi vận dụng các kiểu dạy học tích cực kết hợp với mô hình BL để tổ chức cho HS tự học và thảo luận. Bước 4: Hướng dẫn, chốt kiến thức và hướng dẫn học bài sau Sau khi tham gia các hoạt động học tập trên lớp, GV chốt lại các kiến thức quan trọng trong bài học đồng thời giao nhiệm vụ về nhà để HS tự học, tự ôn tập bài cũ cũng như là chuẩn bị cho bài mới. Cứ như thế tiếp tục các hoạt động như các bước trên.
Ưu nhược điểm mô hình dạy học kết hợp Mô hình giảng dạy kết hợp sẽ có ưu điểm của cả hai hình thức học trực tiếp và trực tuyến, đồng thời sẽ có một số hạn chế riêng. Vậy, các ưu nhược điểm nổi bật là: 1.