CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA TỔ CHỨC DẠY HỌC NHẰM GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH 1. NL của HS THPT 1. Khái niệm NL NL là một khái niệm thuộc phạm trù tâm lí học. Trong tiếng Anh, từ có nghĩa NL là: Competency, Ability, Capability, Potentiality, Efficiency, … Trong tiếng Việt cũng có một số từ đồng nghĩa với NL là: tiềm năng, kĩ năng, khả năng, Trong khóa luận này, chúng tôi thống nhất sử dụng từ có nghĩa NL trong tiếng Anh là Competency.
Tùy theo hướng tiếp cận trong nghiên cứu, NL được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nhà tâm lí học người Pháp Denyse Tremblay (2002) dựa trên quan niệm “học tập suất đời” cho rằng: “NL là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [5]. Tiếp cận theo hướng chức năng, chương trình GD trung học Québec của Bộ GD Canada (2004) quan niệm: “NL có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [1].
Trên quan điểm xem NL thuộc phạm trù hoạt động hoặc đặc điểm, PC, thuộc tính cá nhân, P. Rudik định nghĩa: “NL là tính chất tâm – sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định” [10]. Weinert cho rằng: “NL là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [16]. 4 Ở Việt Nam, theo Từ điển Tiếng Việt, NL có nghĩa gốc là: “a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b) PC tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [5].
Theo các tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn thì: “NL là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [11]. Nghiên cứu vào đối tượng cụ thể là HS THPT, tác giả Nguyễn Thị Minh Phương cho rằng: “NL cần đạt được của HS THPT là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả” [8]. Chương trình GD phổ thông tổng thể (2018) quan niệm: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Từ các phân tích trên, có thể hiểu: “NL là khả năng thực hiện có hiệu quả một hoạt động nào đó trong những điều kiện cụ thể một cách có kiến thức, có kĩ năng chứ không phải làm một cách máy móc, rập khuôn”.
* Phân loại NL: Người ta chia NL thành 2 loại: NL chung và NL chuyên biệt. - NL chung: là NL cơ bản, thiết yếu, cốt lõi…làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. - NL chuyên biệt: là NL được hình thành và phát triển trên cơ sở của các NL chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, MT đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp của một hoạt động như: toán học, Vật lí, hóa học…. NL chung Chương trình GD phổ thông tổng thể (2018) đã công bố mục tiêu GD HS phổ thông để rèn luyện tốt 5 PC của HS gồm “Yêu nước – Nhân ái – Chăm chỉ – Trung thực – Trách nhiệm” và 10 NL cốt lõi cho HS (03 NL chung, 07 NL chuyên môn): NL chung bao gồm NL tự chủ và tự 30 học, NL giao tiếp và hợp tác, NL GQVĐ và sáng 5 tạo; NL chuyên môn bao gồm NL ngôn ngữ, NL khoa học, NL tính toán, NL tin học, NL công nghệ, NL thể chất và NL thẩm mỹ 1.
NL chuyên biệt môn Vật lí Môn Vật lí hình thành và phát triển ở HS NL Vật lí, với những biểu hiện cụ thể sau đây: a) Nhận thức Vật lí Nhận thức được kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ Vật lí; năng lượng và sóng; lực và trường; nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến Vật lí; biểu hiện cụ thể là: - Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình Vật lí. - Trình bày được các hiện tượng, quá trình Vật lí; đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình Vật lí bằng các hình thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ. - Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học. - So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, quá trình Vật lí theo các tiêu chí khác nhau.
- Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình. 6 - Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời giải thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận. - Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân. b) Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ Vật lí Tìm hiểu được một số hiện tượng, quá trình Vật lí đơn giản, gần gũi trong đời sống và trong thế giới tự nhiên theo tiến trình; sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra các kết luận; biểu hiện cụ thể là: - Đề xuất vấn đề liên quan đến Vật lí: Nhận ra và đặt được câu hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức, kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất.
- Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu. - Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, TN, điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư liệu); lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu. - Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, TN, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết. - Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục.
- Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp. c) Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học trong một số trường hợp đơn giản, bước đầu sử dụng toán học như một ngôn ngữ và công cụ để giải quyết được vấn đề; biểu hiện cụ thể là: - Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn. 7 - Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn. - Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới.
- Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững. DH môn Vật lí cho HS tại trường phổ thông. Mục tiêu và những điểm mới của DH môn Vật lí. Mục tiêu - Cùng với các môn học và hoạt động GD khác, giúp HS hình thành, phát triển các PC chủ yếu và NL chung được quy định trong Chương trình tổng thể.
- Giúp HS hình thành, phát triển NL Vật lí, với các biểu hiện sau: + Có được những kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ Vật lí; năng lượng và sóng; lực và trường. + Vận dụng được một số kĩ năng tiến trình khoa học để khám phá, giải quyết vấn đề dưới góc độ Vật lí. + Vận dụng được một số kiến thức, kĩ năng trong thực tiễn, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và BVMT. + Nhận biết được NL, sở trường của bản thân, định hướng được nghề nghiệp và có kế hoạch học tập, rèn luyện đáp ứng yêu cầu của định hướng nghề nghiệp.
Những điểm mới - Tích hợp ở giai đoạn GD cơ bản, phân hóa ở THPT + Ở THPT, Vật lí là môn học thuộc nhóm môn Khoa học tự nhiên, được lựa chọn theo nguyện vọng của HS. Ở giai đoạn GD định hướng nghề nghiệp này, môn Vật lí giúp HS tiếp tục phát triển các PC, NL đã được định hình trong giai đoạn GD cơ bản, củng cố các PC, kĩ năng cốt lõi, tạo điều kiện để HS bước đầu nhận biết đúng NL, sở trường của bản thân, có thái độ tích cực đối với môn học.