CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Các thời kỳ phát triển của trẻ em và các đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ dưới 3 tuổi: 1. Cách phân chia các thời kỳ: Cơ thể trẻ em có những đặc điểm riêng về cấu tạo và sinh lý. Từ lúc thụ thai đến tuổi trưởng thành trẻ phải trải qua hai hiện tượng: trước hết là sự tăng trưởng, phát triển về số lượng và kích thước của tế bào ở các mô; sau đó là sự trưởng thành về cấu trúc, chức năng các cơ quan.
Quá trình lớn lên và phát triển của trẻ có tính chất toàn diện, cả về thể chất, tâm thần và vận động. Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng về bệnh lý và sinh lý. Sự phân chia các thời kỳ (giai đoạn) của trẻ em là một thực tế khách quan, nhưng ranh giới giữa các giai đoạn không rõ ràng và có sự khác biệt đối với từng đứa trẻ, giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau. Theo WHO trẻ em bao gồm từ 0 đến 18 tuổi, được phân chia cụ thể như sau [30]: - Sơ sinh (newborn): từ lúc sinh đến 1 tháng - Trẻ bú mẹ (infant): 1 đến 23 tháng - Trẻ tiền học đường (preschool child): 2 đến 5 tuổi - Trẻ em nhi đồng (child): 6 đến 12 tuổi - Trẻ vị thành niên (adolescent): 13 đến 18 tuổi c 5 1.
Đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ dưới 3 tuổi: Lứa tuổi này tốc độ lớn có giảm so với lứa tuổi trước 12 tháng nhưng vẫn còn cao đồng thời các hoạt động đã bắt đầu tăng lên cùng theo với tuổi tập đi, tập nói. do đó tiêu hao năng lượng so với cơ thể vẫn cao. Trẻ từ 1-3 tuổi, cơ quan tiêu hóa chưa phát triển hoàn chỉnh, do vậy các thức ăn cho trẻ cần phải dễ tiêu hóa, giàu các chất dinh dưỡng có giá trị cao và đủ các nhóm thực phẩm trong ô dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu các chất dinh dưỡng. Đảm bảo tốt vệ sinh thực phẩm và ăn uống để phòng tránh nhiễm khuẩn và các bệnh đường ruột ở trẻ.
Do tiếp xúc rộng rãi với môi trường nên trẻ dễ bị lây các bệnh truyền nhiễm (sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván, viêm gan virus, sốt xuất huyết). Hệ thống miễn dịch hoạt động tốt, các bệnh nhiễm trùng giảm, nhưng trẻ lại bị các bệnh dị ứng như viêm cầu thận cấp, hen suyễn, nổi mề đay [30]. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 3 tuổi: Nhu cầu năng lượng theo bảng khuyến nghị của Việt Nam cho trẻ từ 1-3 tuổi là 1300 kcal (100 kcal/kg cân nặng), trong đó 50% đáp ứng cho chuyển hóa cơ bản, 12% cho tăng trưởng, 25% cho hoạt động thể lực [14]. Trong chế độ ăn của trẻ dưới 3 tuổi, nhu cầu protein hàng ngày là 28g/ngày (2,5g-3g/kg cân nặng của trẻ).
Trong đó, protein có nguồn gốc động vật chiếm 50-60% tổng số protein [14]. Nhu cầu lipid ở trẻ đảm bảo cho nhu cầu về năng lượng (1g chất béo cung cấp 9 kcal), cung cấp các acid béo cần thiết và hỗ trợ cho việc hấp thu các vitamin tan trong dầu (A,D,E,K) [30] Chế độ ăn của trẻ có 60-65% kcal từ glucid, chủ yếu từ ngũ cốc, khoai củ, một số loại rau củ… c 6 Ở lứa tuổi này hàng ngày cần cung cấp 400-500mg canxi, là chất khoáng rất cần cho sự tạo xương, tạo răng, tạo máu và các hoạt động chức năng sinh lý của cơ thể. Trẻ cần 6-7mg sắt mỗi ngày cho sự tạo máu và tham gia vào thành phần nhiều men quan trọng trong cơ thể [14]. Mọi vitamin đều cần thiết cho trẻ, trong đó cần chú ý cung cấp đủ vitamin A (400µg) và vitamin C (35mg) là những vitamin rất cần cho sự phát triển bình thường của trẻ, cần cho sự tạo máu, tăng cường sức chống đỡ với bệnh tật [11].
Số bữa ăn trong ngày nên từ 4-5 bữa, với chế độ ăn riêng của trẻ, các thức ăn mềm và tập dần cho trẻ ăn từng loại thức ăn từ ít đến nhiều, cho đến thức ăn hỗn hợp. Tình hình SDD protein năng lượng của trẻ em 1. Tình hình SDD protein năng lượng trên Thế giới: Theo báo cáo của UNICEF công bố ngày 2/5/2006 cho thấy hơn 1/4 trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển ở tình trạng SDD nhẹ cân, cuộc sống đang bị đe doạ. Dinh dưỡng không đầy đủ vẫn là đại dịch toàn cầu dẫn đến một nửa số ca tử vong là trẻ em, khoảng 5,6 triệu trẻ em mỗi năm.
Mặc dù đã có tiến bộ ở một số quốc gia, nhưng trong 15 năm vừa qua các quốc gia đang phát triển trung bình mới chỉ giảm được 1,5% trẻ em SDD nhẹ cân [20]. Thống kê tỷ lệ SDD qua các cuộc điều tra quốc gia từ 1980-1992 của 79 nước đang phát triển cho thấy tỷ lệ SDD là 35,8%, tỷ lệ trẻ em còi cọc là 42,7% và tỷ lệ trẻ em gầy còm là 9,2 %. Châu Á có tỷ lệ SDD cao nhất so với các châu lục khác: 42% trẻ em SDD, 47,1% trẻ em còi cọc và 10,8% trẻ gầy còm. Châu Úc có 29,1% trẻ em SDD, 41,9% trẻ em còi cọc, 7,2% trẻ em gầy còm.
Châu Phi có 27,4% trẻ em SDD, 38,6% trẻ em còi cọc và 7,2% trẻ em c 7 gầy còm. Có ít nhất 2/3 số trẻ em châu Á và 1 nửa số trẻ em SDD trên thế giới sống ở khu vực Nam Á [45]. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở Việt Nam tuy đã giảm nhiều, nhưng vẫn còn ở mức cao so với trung bình các nước trong khu vực và các nước đang phát triển có thu nhập đầu người tương tự. Suy dinh dưỡng trẻ em Việt Nam so với khu vực và Thế giới - Năm 2000 [9] SDD Thể nhẹ cân Thể thấp còi Thể gầy còm Khu vực (%) (%) (%) Banglades 56 55 18 Việt nam 34 36 8 Thái Lan 19 16 6 Philippin 28 30 6 Indonesia 34 42 13 Lào 40 47 11 Campuchia 52 56 13 Trung Quốc 10 17 11 Theo báo cáo của UNICEF (Quĩ Nhi đồng của Liên Hiệp Quốc) năm 2007, trên thế giới có khoảng 146 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, phần lớn tập trung ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh.
Trong số này có khoảng 2 triệu trẻ em từ Việt Nam. Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm 2007, số trẻ em dưới 5 tuổi ở nước ta có khoảng 9,4 triệu, có đến 2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thiếu cân (chiếm 21,2%) [13]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X đã đề ra chỉ tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng xuống dưới 20% vào năm 2010 [29]. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em tuy có xu c 8 hướng giảm, nhưng vẫn còn khoảng 1/3 trẻ em cơ thể trong tình trạng kém phát triển.
Con số này đặt nước ta vào số 36 nước có tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng cao nhất thế giới, và đó là một vấn đề y tế công cộng rất lớn.1 Tình hình SDD protein năng lượng trẻ em tại Việt Nam Suy dinh dưỡng protein năng lượng ở trẻ em Việt Nam còn là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội. Các kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2010 cho thấy tình tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em trong cộng đồng đã giảm, nhưng vẫn là một mức cao theo tiêu chuẩn đánh giá của WHO [12]. Suy dinh dưỡng trẻ em làm ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng đến sự phát triển của kinh tế-xã hội, làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong ở trẻ em lên 2,5-2,8 lần so với trẻ bình thường. Diễn biến suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc (1999 – 2010) Thể nhẹ cân Thể thấp còi 45 38,7 40 36,7 36,5 34,8 33,8 31,9 33 33,9 32,6 35 32,0 30,7 31,9 31,9 30,1 28,4 29,6 29,3 30 26,6 25,2 25 23,4 21,2 19,9 % 18,9 17,5 20 15 10 5 0 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Biểu đồ 1.
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam qua các năm 1999-2010 [13]. Tháng 10/1999, Trương Thị Sương và cộng sự tiến hành khám lưu động cho 5.084 trẻ em, trong đó có 1.906 trẻ dưới 5 tuổi tại 18 xã thuộc 9 huyện của tỉnh Quảng Nam cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng là 42,47%, trong đó suy c 9 dinh dưỡng nặng và rất nặng chiếm 11,38%. Nhóm tuổi có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp nhất là từ 0-12 tháng, nhóm có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất là từ 24-36 tháng (56,0%) [35]. Kết quả điều tra trên 749 trẻ từ 0-60 tháng tuổi của Đinh Văn Thức và cộng sự tại hai xã Đặng Cương và Quốc Tuấn, huyện An Hải, Hải Phòng năm 2000 cho thấy tỷ lệ SDD thể thấp còi chiếm 42,32%, thể nhẹ cân là 4,41% và thể gày mòn là 2,80%.
Tỷ lệ SDD cao nhất ở nhóm tuổi 13-24 tháng (42,76%), thấp nhất ở nhóm 0-12 tháng tuổi (23,42%) [38]. Qua cuộc tổng điều tra về dinh dưỡng năm 2000 cho thấy, tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi còn có sự chênh lệch giữa các nhóm tuổi khác nhau [8]: tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 12 tháng tuổi là thấp nhất đối với cả 3 thể ( thể nhẹ cân, thể thấp còi, thể gầy còm), sau đó tăng lên nhanh ở cả 3 chỉ tiêu cho tới 2-3 tuổi và tiếp tục duy trì ở mức cao trong những năm tiếp theo. Điều đó cho thấy tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở cả 3 chỉ tiêu (CN/T, CC/T, CN/CC) đều đã giảm nhưng các đặc điểm SDD ở trẻ em nước ta đã được nghiên cứu trước đây vẫn còn ý nghĩa và chương trình phòng chống SDD trẻ em cần tiếp tục được đẩy mạnh.5 SDD W/H(%) 10 6 5 0 Tháng tuổi ≤12 13-24 25-36 37-48 49-60 tháng tháng tháng tháng tháng Biểu đồ 1. Tỷ lệ (%) SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo nhóm tháng tuổi [8] c 10 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cũng khác nhau rất nhiều giữa các vùng sinh thái.
Tỷ lệ cao nhất ở vùng Tây Nguyên vì đây là vùng nghèo, còn nhiều khó khăn, mùa màng thường xuyên chịu tác động nặng nề bởi thiên tai, lũ lụt. Thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long.