Mở đầu - Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu - Chƣơng 2: Nội dung và Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu - Kết luận và Kiến nghị. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Biến đổi khí hậu 1. Khái niệm về biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con ngƣời.
Biến đổi khí hậu hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nƣớc biển dâng và gia tăng các hiện tƣợng khí tƣợng thủy văn cực đoan. Hiện nay khái niệm “biến đổi khí hậu” và sự nóng lên toàn cầu không còn xa lạ và đƣợc đánh giá tiềm ẩn nhiều nguy cơ do các tác động của nó. Nhiệt độ toàn cầu gia tăng cùng với sự thay đổi trong phân bố năng lƣợng trên bề mặt Trái đất và bầu khí quyển đã dẫn đến sự biến đổi của các hệ thống hoàn lƣu khí quyển và đại dƣơng mà hậu quả của nó là sự biến đổi của các cực trị thời tiết và khí hậu. Nhiều bằng chứng đã chứng tỏ rằng, thiên tai và các hiện tƣợng cực đoan ngày càng gia tăng ở nhiều vùng trên Trái đất mà nguyên nhân là do sự biến đổi bất thƣờng của các hiện tƣợng thời tiết, khí hậu cực đoan.
Hiểu một cách chung nhất thì BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu trái đất do sự gia tăng nhiệt độ trung bình của trái đất từ giữa Thế kỷ 20 tới nay, bắt nguồn từ nồng độ khí nhà kính phát sinh từ các hoạt động của con ngƣời (sử dụng quá mức nhiên liệu hóa thạch, hoạt động sản xuất nông nghiệp, chặt phá và đốt rừng, thay đổi mục đích sử dụng đất…) đã gia tăng ở mức vƣợt xa so với thời kỳ tiền công nghiệp (IPCC, 2007) [18]. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu Nguyên nhân chính của BĐKH là do phát thải khí nhà kính. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu, hoặc do tác động bên ngoài hoặc do tác động của con ngƣời. Các đánh giá liên quan đến nguyên nhân gây ra BĐKH do hoạt động của con ngƣời do IPCC công bố đã có những thay đổi.
Theo bản báo cáo của IPCC gần đây nhất công bố năm 2013 đã kết luận rằng hoạt động con ngƣời đóng góp vào 95% nguyên nhân gây ra BĐKH (IPCC, 2013) [19]. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu Theo báo cáo lần thứ 5 của IPCC (AR5), nhiệt độ trung bình toàn cầu có xu thế tăng lên rõ rệt kể từ những năm 1950, nhiều kỷ lục thời tiết và khí hậu cực đoan đã đƣợc xác lập trong vài thập kỷ qua. Khí quyển và đại dƣơng ấm lên, lƣợng tuyết và băng giảm, mực nƣớc biển tăng, nồng độ các khí nhà kính tăng (IPCC, 2013) [19].
Biến đổi của nhiệt độ có xu thế chung là tăng nhanh hơn ở vùng vĩ độ cao so với vùng vĩ độ thấp; tăng nhanh hơn ở các vùng sâu trong lục địa so với vùng ven biển và hải đảo; nhiệt độ tối thấp tăng nhanh hơn so với nhiệt độ tối cao. Báo cáo AR 5 (IPCC, 2013) tiếp tục khẳng định số ngày và số đêm lạnh có xu thế giảm; số ngày và số đêm nóng, số đợt nắng nóng có xu thế tăng trên quy mô toàn cầu. Cùng với sự tăng nhanh của nhiệt độ, diện tích băng cũng có xu thế giảm, giảm đáng kể nhất trong những năm gần đây. a) Trung bình năm b) Trung bình thập niên Hình 1.1: Diễn biến chuẩn sai nhiệt độ trung bình toàn cầu thời kỳ 1850- 2012 (thời kỳ chuẩn: 1961-1999): trung bình năm (a) và thập niên (b) M (Nguồn: IPCC, 2013) ức ch 6 TIEU ên LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Mức độ biến đổi nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1901-2012 (Nguồn: IPCC, 2013) Lƣợng mƣa có xu thế tăng ở đa phần các khu vực trên quy mô toàn cầu trong thời kỳ 1901-2010.
Trong đó, xu thế tăng rõ ràng nhất ở các vùng vĩ độ trung bình và cao; ngƣợc lại, nhiều khu vực nhiệt đới có xu thế giảm. Xu thế tăng/giảm của lƣợng mƣa phản ánh rõ ràng hơn trong giai đoạn 1951-2010 so với giai đoạn 1901-2010. Trong đó, xu thế tăng rõ ràng nhất ở khu vực Châu Mỹ, Tây Âu, Úc; xu thế giảm rõ ràng nhất ở khu vực Châu Phi và Trung Quốc. IPCC cũng tiếp tục khẳng định số vùng có số đợt mƣa lớn tăng nhiều hơn số vùng có số đợt mƣa lớn giảm.
Hạn hán không có xu thế rõ ràng do hạn chế về số liệu quan trắc và đánh giá hạn. Xu thế về tầ n số bão là chƣa rõ ràng, tuy nhiên gần nhƣ chắc chắn rằng số cơn bão mạnh cũng nhƣ cƣờng độ của các cơn bão mạnh đã tăng lên (IPCC, 2013) [19].3: Mức độ biến đổi tuyến tính của lượng mưa năm thời kỳ 1901- 2010 và giai đoạn 1951-2010 (Nguồn: IPCC, 2013) 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phát thải khí nhà kính KNK đƣợc định nghĩa là những thành phần của khí quyển, đƣợc tạo ra do tự nhiên và các hoạt động của con ngƣời. Chúng có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài đƣợc phản xạ từ bề mặt Trái đất khi đƣợc chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho Trái đất, gây nên hiệu ứng nhà kính.
Tiếp tục phát thải KNK sẽ làm nặng nề thêm những thay đổi của khí hậu toàn cầu cũng nhƣ những ảnh hƣởng tiêu cực của nó lên tự nhiên và con ngƣời. Căn cứ theo nguồn gốc phát sinh, mức độ phát thải tuyệt đối và xu hƣớng phát thải cũng nhƣ mức độ ảnh hƣởng đến tổng tiềm năng phát thải KNK của các quốc gia, các nguồn phát thải đƣợc chia thành 4 nhóm chính: - Năng lượng: là một trong những nguồn phát thải KNK lớn nhất hiện nay. Lĩnh vực này thƣờng đóng góp đến trên 90% lƣợng CO2 và 75% lƣợng KNK khác phát thải ở các nƣớc đang phát triển. 95% các khí phát thải từ ngành năng lƣợng là CO2, còn lại là CH4 và N2O với mức tƣơng đƣơng.
- Quy trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm (IPPU): phát thải từ lĩnh vực IPPU phát sinh trong các quy trình xử lý công nghiệp; việc sử dụng KNK trong các sản phẩm và sử dụng các bon trong các nhiên liệu hóa thạch không nhằm mục đích sản xuất năng lƣợng. Trong suốt các quy trình này, nhiều loại KNK đƣợc tạo ra bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs và PFCs. Lĩnh vực IPPU đóng góp khoảng 7% lƣợng khí thải tạo ra từ các nƣớc phụ lục I (UNFCCC, 2008) và xấp xỉ 6% ở các nƣớc không thuộc phụ lục I (UNFCCC, 2005). - Nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất: các nguồn chủ yếu gây phát thải bao gồm phát thải CH4 và N2O từ chăn nuôi, trồng lúa nƣớc, đất canh tác nông nghiệp, hoạt động đốt trong sản xuất nông nghiệp; Phát thải/hấp thụ CO2 trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất.
Nói chung, lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất đóng góp khoảng 30% lƣợng phát thải KNK toàn cầu, chủ yếu là do CO2 phát thải từ những thay đổi trong sử dụng đất (phần lớn là do phá rừng nhiệt đới) và CH4, N2O từ trồng trọt và chăn nuôi gia súc. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chất thải: Các loại KNK có thể phát sinh trong lĩnh vực chất thải bao gồm: CO2, CH4 và N2O. Các nguồn phát sinh KNK chính trong lĩnh vực chất thải đƣợc ghi nhận là: chôn lấp chất thải rắn; xử lý sinh học chất thải rắn; thiêu hủy và đốt mở chất thải; xử lý và xả nƣớc thải. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam và tỉnh Nam Định 1.
Biến đổi khí hậu ở Việt Nam Vào những năm 90 của thế kỷ trƣớc, các nhà nghiên cứu khoa học đầu ngành nhƣ Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu đã tiến hành nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề này chỉ thực sự đƣợc quan tâm từ sau năm 2000. Các công trình nghiên cứu về biến đổi khí hậu cũng đã dần đi vào chiều sâu về bản chất vật lý và những bằng chứng cho thấy sự tác động của nó. Kết quả của những nghiên cứu này đã cho chúng ta biết khí hậu Việt Nam có những dấu hiệu biến đổi sâu sắc.
- Về nhiệt độ: theo Kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài Nguyên và Môi trƣờng công bố năm 2012, ở Việt Nam, xu thế biến đổi của nhiệt độ và lƣợng mƣa là rất khác nhau trên các vùng trong 50 năm qua (1961-2010) (Bảng 1. Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5oC trên phạm vi cả nƣớc và lƣợng mƣa có xu hƣớng giảm ở phía Bắc, tăng ở phía Nam lãnh thổ. Vào mùa đông, nhiệt độ tăng nhanh hơn ở vùng Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng 1,3-1,5oC/50 năm). Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có nhiệt độ tháng 1 tăng chậm hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng 0,6-0,9oC/50 năm).
Tính trung bình cho cả nƣớc, nhiệt độ mùa đông ở nƣớc ta đã tăng lên 1,2oC trong 50 năm qua. Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng 0,3- 0,5oC/50 năm trên tất cả các vùng khí hậu của nƣớc ta. Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5-0,6oC/50 năm ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng 0,3oC/50 năm. Mức biến đổi nhiệt độ cực đại trên toàn Việt Nam nhìn chung dao động trong khoảng từ -3oC đến 3oC.
Mức thay đổi nhiệt độ cực tiểu chủ yếu dao động trong khoảng -5oC đến 5oC. Xu thế chung 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của nhiệt độ cực đại và cực tiểu là tăng, tốc độ tăng của nhiệt độ cực tiểu nhanh hơn so với nhiệt độ cực đại, phù hợp với xu thế chung của BĐKH toàn cầu [5].