CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm, đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tuy những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bất cứ tội phạm nào, nhưng chúng cũng có thể có mặt ở trường hợp này mà không có mặt trong trường hợp phạm tội khác.
Vì thế, những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không được sử dụng là dấu hiệu chung để xây dựng chế tài đối với một tội phạm cụ thể. Lấy chế tài làm gốc, việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng theo những quy tắc nhất định trên cơ sở cân nhắc giá trị giảm nhẹ của mỗi trường hợp hoặc của một tập hợp các trường hợp. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được sử dụng khá nhiều và đóng vai trò quan trọng với tư cách là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Khoản 1 Điều 51 và quy định Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trong Khoản 2 Điều 51.
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Trường Đại học Huế do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên có nêu: “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cân nhắc khi quyết định hình phạt là những tình tiết khác 7 Luan van nhau về tội phạm đã thực hiện, về nhân thân người phạm tội được quy định cụ thể trong luật hoặc không được quy định cụ thể trong luật nhưng được Tòa án cân nhắc với ý nghĩa làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội”.TSKH Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm rằng “Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định trong Phần chung Bộ luật hình sự với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và được ghi rõ trong bản án (nếu trong vụ án hình sự không có tình tiết này), đồng thời là một trong những căn cứ để cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền và Tòa án tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt”.17] Trong bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 phần chung, Thạc sĩ Đinh Văn Quế cho rằng “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết trong một vụ án cụ thể nó sẽ làm giảm trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong một khung hình phạt” [20, tr. Trần Thị Quang Vinh lại cho rằng “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết của vụ án hình sự, liên quan đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự, có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng và giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của chúng chưa được ghi nhận trong chế tài.9] Hầu hết các tác giả đều cho rằng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định trong BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với 8 Luan van người phạm tội. Theo Từ điển tiếng Việt, “Tình tiết” được hiểu là sự việc nhỏ trong quá trình diễn biến của sự kiện, tâm trạng [1, tr. Do vậy, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể hiểu là những sự việc nhỏ trong một vụ án có ý nghĩa làm giảm mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
Còn “Giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” có thể được hiểu là việc hạn chế sự tác động hình sự thuộc nội dung của trách nhiệm hình sự. Tại một mức độ cao nhất, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bất kỳ tình tiết nào mà sự hiện diện của nó làm giảm bớt mức độ trách nhiệm hình sự. Như vậy, ở cấp độ này, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết định tội giảm nhẹ, định khung giảm nhẹ, các tình tiết giảm nhẹ tại Điều 51 và các điều luật khác tại phần chung Bộ luật hình sự, cũng như các tình tiết được áp dụng theo khoản 2 điều 51. Ở mức độ thứ hai, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết có ý nghĩa giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên cơ sở đã có một sự chuẩn mực xác định về trách nhiệm hình sự.
Như vậy, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết được quy định và áp dụng theo quy định tại phần chung Bộ luật hình sự. Từ các quan điểm về khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã nêu trên, cũng như căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tình tiết giảm nhẹ TNHS. Tác giả qua nghiên cứu xem xét, đưa ra khái niệm của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết trong một vụ án cụ thể mà nó sẽ làm giảm trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong một khung hình phạt. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội chỉ có ý nghĩa giải nhẹ đối với cá nhân người phạm tội, còn các tình tiết giảm nhẹ khác nếu thuộc về người nào thì chỉ có người đó được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”.
Đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Căn cứ vào quy định của pháp luật, tác giả nhận thấy các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có những đặc điểm sau: Thứ nhất, được quy định cụ thể trong BLHS. Những tình tiết được coi là tình tiết giảm nhẹ hình sự khi được quy định cụ thể tại Điều 51 BLHS. Cụ thể: - Khoản 1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: + Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; + Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; + Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; + Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; + Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; + Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; + Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra; + Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; + Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; + Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức; + Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra; + Phạm tội do lạc hậu; + Người phạm tội là phụ nữ có thai; + Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; + Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt 10 Luan van nặng; + Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; + Người phạm tội tự thú; + Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải; + Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm; + Người phạm tội đã lập công chuộc tội; + Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; + Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt”. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 còn được quy định trong một số các văn bản khác như Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/08/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999, Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự. Trong quá trình xét xử, Tòa án còn có thể xem xét, cân nhắc coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và điều này phải ghi rõ lý do trong bản án.
Khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần lưu ý rằng, 11 Luan van những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được quy định với tính cách là yếu tố định tội hoặc là yếu tố định khung hình phạt của một số tội phạm cụ thể thì trong quá trình xét xử, Tòa án không được xem xét nó như là tình tiết giảm nhẹ chung được quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS. Thứ hai, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là căn cứ để Tòa án áp dụng hình phạt theo hướng nhẹ hơn đối với người phạm tội. Thứ ba, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt. Thứ tư, mức độ ảnh hưởng của mỗi tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đến việc quyết định hình phạt không giống nhau.
Phân loại các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Có nhiều cách để phân loại các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng theo tác giả thì mỗi cách phân loại đều có yếu tố hợp lý và ý nghĩa riêng khi áp dụng pháp luật nhưng lại tồn tại những vướng mắc nhất định.