Chương 1: BỐI CẢNH KINH TẾ - VĂN HÓA - XÃ HỘI CỦA ĐỊA PHƯƠNG 1. Vài đặc điểm chung về xã Vĩnh Hải và ấp Trà Sết Xã Vĩnh Hải là một trong số 7 xã của huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Vĩnh Hải là một xã tương đối xa trung tâm huyện. (Từ huyện về đến xã bằng con đường độc đạo trải nhựa dài trên 18 km, đi qua hai xã Vĩnh Châu và Lạc Hoà của huyện Vĩnh Châu.
Hai phía đông và nam của xã giáp biển Đông, phía tây giáp xã Lạc Hoà, phía bắc một phần giáp xã Hoà Đông và một phần khác, được ngăn cách bởi sông Mỹ Thanh, một giáp với Mỏ Ó, thuộc Trà Vinh (Xem bản đồ xã ở Phụ lục 4). Cũng như các xã khác trong huyện, Vĩnh Hải là một khu vực tập trung đông dân cư Khmer sinh sống. Dân số xã tính đến năm 1998, theo số liệu do chính quyền xã cung cấp, có 17.497 nhân khẩu (trong 3488 hộ) thì trong đó, người dân tộc Khmer đã chiếm đến đến 8801 nhân khẩu, có nghĩa là chiếm đến 50,30 % dân số toàn xã. Tiếp theo là người Hoa gồm 4904 nhân khẩu chiếm 28,02%, và người Kinh(1) chiếm tỷ lệ thấp nhất với 3792 nhân khẩu, chiếm 21,67 %.
Xã Vĩnh Hải gồm 08 ấp với các số liệu thống kê như sau: Nhân Các dân tộc (theo hộ) Tên ấp Nữ Số hộ khẩu Kinh Hoa Khmer Âu Thọ A 2620 1364 441 28 121 292 Âu Thọ B 3111 1677 620 10 321 289 Trà Sết 3081 1648 618 48 88 482 Giồng Nổi 1066 595 237 8 14 215 Huỳnh Kỳ 1777 896 387 348 12 27 Mỹ Thanh 1242 620 210 201 04 5 Vĩnh Thạnh A 1854 816 400 173 217 10 Vĩnh Thạnh B 2746 1296 575 105 161 309 (1 ) Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất cách gọi các tộc người là người Kinh, người Khmer, người Hoa, và các ngôn ngữ là tiếng Việt, tiếng Khmer, tiếng Hoa. Dân số xã Vĩnh Hải Từ các số liệu trên đây, chúng ta có thể thấy sự phân bố ba tộc người Kinh, Hoa, Khmer ở các ấp là không đồng đều. Có ấp chủ yếu tập trung người Hoa nhiều, như ấp Âu Thọ B, có ấp hầu như chỉ toàn người Kinh như ấp Huỳnh Kỳ. Lý do chúng tôi chọn ấp Trà Sết làm khu vực nghiên cứu, ngoài những lý do có tính chất cá nhân như điều kiện khả năng nghiên cứu, còn phải kể đến một số nét nổi bật như (1) sự đa dạng trong cơ cấu dân số về các mặt văn hoá, kinh tế, giáo dục; (2) sự khác biệt về quá trình hình thành và về đặc điểm dân tộc học của nhiều khu dân cư trong ấp; (3) sự tập trung của nhiều tổ chức hành chính trong ấp, như trụ sở Ủy ban Nhân dân Xã, trạm Y tế, chợ Vĩnh Hải (chợ lớn nhất xã), chùa Khmer Trà Sết (lớn nhất xã), bưu điện xã, khu kinh tế mới An Lạc; và (4) tỷ lệ dân số của ba tộc người không quá lệch như ở một số ấp khác trong xã.
Như vậy, Trà Sết có thể nói là ấp trung tâm của xã, nơi diễn ra nhiều hoạt động của chính quyền địa phương, các hoạt động tôn giáo ở địa phương, cũng như là một trong những đầu mối giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hoá của xã. Chính điều này đã tạo nên một bức tranh song ngữ / đa ngữ vô cùng phức tạp và đa dạng, bức tranh mà ở một số góc độ nào đó, có thể nói là tiêu biểu cho cả xã, thậm chí là cả khu vực huyện Vĩnh Châu. Dưới đây là những đặc điểm nổi bật của ấp. Về dân số Là một trong hai ấp đông dân nhất xã, Trà Sết có 618 hộ, với 3081 nhân khẩu (tính đến năm 2003 theo con số thống kê do chính quyền xã cung cấp), trong đó người Kinh gồm 48 hộ (182 nhân khẩu với 86 nữ), người Hoa 88 hộ (450 nhân khẩu – 230 nữ), và đông nhất là người Khmer 482 hộ (2449 nhân khẩu – 1432 nữ).
Có thể tóm tắt tình hình dân số ấp Trà Sết ở bảng dưới đây. Dân tộc Số hộ Nhân khẩu Nữ Tỷ lệ (56,73%) 86 Kinh 48 182 5,92% (47,25%) Hoa 88 450 230 14,60% v (51,11%) 1432 Khmer 482 2449 79,48% (58,47%) Bảng 02: Dân số ấp Trà Sết Từ Bảng 02 trên đây, chúng ta có thể thấy, Trà Sết là một ấp tập trung rất đông người Khmer (chiếm gần 80% TA). Vấn đề phân chia dân tộc theo điều tra dân số, với số liệu mà chúng tôi được cung cấp trên đây, gặp phải một số vấn đề tế nhị, có thể ảnh hưởng ít nhiều đến kết quả của công trình nghiên cứu này. Trong nhiều trường hợp, việc xác định thành phần dân tộc không phải là dễ dàng, đặc biệt là đối với những đối tượng thuộc thành phần hỗn hợp, nghĩa là những người lai giữa các dân tộc.
Việc xác định một người thuộc thành phần dân tộc nào, theo chúng tôi, ngoài những yếu tố nhân học và lịch sử ra, còn có yếu tố tự giác dân tộc. Tuy nhiên, có thể nói cho đến nay, việc phân chia thành phần dân tộc theo tiêu chí tự giác dân tộc vẫn chưa thực hiện được. Về cơ cấu tuổi, tỷ lệ các lứa tuổi như sau: Lứa tuổi Kinh Hoa Khmer (182 người) (450 người) (2449 người) (5,92%) (14,60%) (79,48%) Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ (96) (86) (220) (230) (1017) (1432) (3,13%) (2,79%) (7,14%) (7,46%) (33%) (46,48%) Từ 6t trở xuống 14 3 14 20 101 162 314 ng (10,19%) Từ 7t – 15t 20 17 39 42 281 344 743 ng (24,11%) Từ 16t – 30t 27 32 89 90 310 423 971 ng (32,17%) Từ 31t – 45t 19 22 35 43 175 232 526 ng (17,07%) Từ 46t – 60t 11 8 33 20 93 180 345 ng (11,19%) từ 61t trở lên 5 4 10 15 57 91 182 (5,27%) vi Bảng 03: Cơ cấu dân số theo tuổi ở ấp Trà Sết Trong vòng vài chục năm trở lại đây, ấp Trà Sết chứng kiến những biến đổi về mặt dân số cũng như cơ cấu dân số. Chính những đổi này làm cho dân cư ấp Trà Sết rất phức tạp về mặt nguồn gốc, không phải hộ nào cũng có nguồn gốc tại địa phương.
(1) Biến đổi thứ nhất dưới tác động của sự kiện lịch sử quan trọng - chiến thắng 1975, mà người dân địa phương quen gọi là “tiếp thu”. Trước ngày giải phóng này, khu vực ngày nay là ranh giới ấp Trà Sết và ấp Giồng Nổi, dân cư vẫn còn thưa thớt, chủ yếu gồm người Khmer, người Hoa (người Tiều), và rất ít người Việt. Các nhóm dân cư này chủ yếu tập trung ở khu vực [a] (chủ yếu người Hoa) và [c] (người Khmer sống quanh chùa Trà Sết) (Xem bản đồ ấp ở phần Phụ lục). Ngay sau ngày miền Nam giải phóng, dân cư từ hai hướng bắc và đông chuyển đến, trong số đó có nhiều người Kinh.
(2) Biến đổi thứ hai xảy ra sau trận bão 1995. Nhiều gia đình sống ven biển bị cơn bão hoành hành cướp đi nhà cửa, đến năm 1997 đã được tập trung về khu kinh tế ven biển được quy hoạch theo dự án do UNESCO tài trợ. Khu dân cư được đặt tên là An Lạc (khu vực [e] trên bản đồ ấp). Sự tập trung của khoảng 200 hộ dân nghèo này tại khu An Lạc làm cho dân số của ấp tăng lên một cách đáng kể.
Ngoài hai đợt biến động về mặt dân số lớn kể trên, hiện nay, chúng tôi còn nhận thấy một xu hướng của đợt biến đổi thứ ba, đó là sự di chuyển dân số từ một số ấp xung quanh đến các khu vực có thể nuôi tôm sú trong phạm vi ấp. Sự di chuyển cơ học này, theo chính quyền địa phương, tuy còn ít, nhưng khó có thể khẳng định rằng trong tương lai nó sẽ không là một yếu tố đáng chú ý làm thay đổi cơ cấu dân số của ấp. Một điểm nữa cần đề cập là trên thực tế, việc xác định thành phần dân tộc không đơn giản. Con cái của những hộ gia đình hỗn hợp, gồm vợ và chồng thuộc hai dân tộc khác nhau, lại kết hôn với những người thuộc dân tộc khác tạo nên các đơn vị gia đình đôi khi rất khó xác định thành phần dân tộc chính xác.
Hơn nữa, cùng với chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta trong những năm qua, một số gia đình có xu hướng khai báo thuộc thành phần Khmer hay Hoa để có thể hưởng một số ưu đãi nhất định cho bản thân họ và con cháu. Công tác thống kê ở địa phương vẫn còn vii yếu, nên gây không ít khó khăn và bất cập cho việc xác định chính xác thành phần dân tộc. Về kinh tế Cư dân ấp Trà Sết, theo chính quyền xã cung cấp, chiếm 99% là nông dân hoặc ngư dân, trong đó chủ yếu là các hoạt động: trồng lúa trồng hành, hoa màu, cây thuốc cá, cây ăn quả, nuôi cá, nuôi tôm, đánh bắt cá ven bờ dưới nhiều hình thức như đi te, đi sịp, kéo lưới, đặt ló v. 1 % còn lại làm nghề buôn bán ở chợ Vĩnh Hải, bán quán nước trong các xóm dân cư.
Tuy các con số thống kê đều cho thấy đại đa số dân đều là nông nghiệp, nhưng trên thực tế, nhiều hộ gia đình không có đất nên phải đi làm thuê, làm mướn ở trong hay ngoài địa phận ấp. Tuy chủ yếu là làm rẫy, làm ruộng, nhưng nông dân tại địa phương vẫn có lúc tham gia vào hoạt động buôn bán. Thí dụ, trao đổi nông sản với hàng xóm, đem nông sản thu hoạch được ra bán ngoài chợ. Chỉ cần thuê một chỗ ở chợ (2000 đồng một ngày) là ai cũng có thể trở thành người buôn bán.
Tóm lại, mỗi người ở tuổi lao động tại địa phương, do nhu cầu kinh tế, ai cũng tham gia hoặc có thể tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau, vừa làm rẫy làm ruộng, vừa chạy xe ôm khi có khách, vừa tham gia buôn bán ở chợ khi thu hoạch nông sản. Ngoài ra, một số bộ phận dân cư, ngoài hoạt động nông ngư nghiệp, còn tham gia vào công tác chính quyền (khoảng 10 cán bộ xã và ấp), tham gia vào giảng dạy với tư cách là giáo viên (16 giáo viên có hộ khẩu trong ấp), hay vào chùa tu hành (27 vị sư tu tại chùa Trà Sết). Sự đa dạng trong hoạt động nghề nghiệp của cư dân địa phương thay đổi tùy thuộc vào lứa tuổi, vào thời điểm trong năm, vào thời tiết, vào địa bàn cư trú.