Đặt vấn đề Trong vài năm gần đây, chăn nuôi lợn giữ một vị rí quan trọng trong nghành nông nghiệp của Việt Nam. Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho nhân dân và phân bón cho sản xuất nông nghiệp. Ngày nay chăn nuôi lợn còn có tầm quan trọng đặc biệt nữa là tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là việc làm cần thiết.
Để chăn nuôi đàn lợn ngoại đạt hiệu quả cao bên cạnh các yếu tố về thức ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi… thì một trong những yếu tố hết sức quan trọng cần được đảm bảo là phải có đàn giống tốt. Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại. Tuy nhiên một trong những bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái là các bệnh về sinh sản đặc biệt là bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ cao. Bệnh này không những làm ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ mà còn là một trong những nguyên nhân làm tăng cao tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở đàn lợn con đang trong thời gian theo mẹ, do đó chất lượng của đàn giống bị ảnh hưởng.
Nếu không điều trị kịp thời có thể kế phát viêm vú, mất sữa, nặng có thể dẫn tới rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc…và có thể chết. Vậy để khắc phục hậu quả do bệnh viêm tử cung gây ra trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại Công ty cổ phần Phát triển Bình Minh, xã Phù lưu Tế - Mỹ Đức - Hà Nội chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản tại Công ty cổ phần Phát triển Bình Minh, xã Phù Lưu Tế - Mỹ Đức - Hà Nội và thử nghiệm hai phác đồ điều trị bệnh’’ 2 1. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái. - Thử nghiệm và đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh. - Xác định hiệu lực và độ an toàn của hai phác đồ điều trị. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Đánh giá được sự ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng sinh sản của lợn mẹ.
- Hiểu được tình hình và cách phòng trị bệnh để áp dụng vào thực tiễn sản xuất. Ý nghĩa thực tiễn - Học hỏi kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi một cách hợp lý để bổ sung thêm kiến thức cho mình. - Vận dụng kiến thức đã học vào công tác sản xuất và phòng trị bệnh cho chăn nuôi tại địa phương. 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2003) [8], bộ phận sinh dục của lợn nái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình). * Buồng trứng (Ovarium) Buồng trứng của lợn gồm một treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm trong xoang chậu. Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng.
Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hoocmon: Estrogen, Progesteron và Inhibin. Các hoocmon này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái. Theo Trần Thị Dân (2004) [3] cho biết: phía ngoài của buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn. Phía trong buồng trứng được chia làm 2 miền: Miền vỏ và miền tủy.
Miền vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng có tác dụng về sinh dục vì nó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng. Miền tủy của buồng trứng nằm ở giữa gồm mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết. Trên buồng trứng có từ 70.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng. * Ống dẫn trứng (Oviductus) Ống dẫn trứng (vòi Fallop) được treo bởi màng trao ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng.
Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn: 4 + Tua điểm: Có hình giống như tua liềm. + Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng. + Phồng ống dẫn trứng: Đoạn ống giãn rộng ra xa tâm. + Eo: Đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung.
* Tử cung (Uterus) Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, hai sừng tử cung ở phía trước xoang chậu. Tử cung được giữ lại tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng. Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung: Sừng tử cung dài 50 - 100cm, hình ruột non, thông với ống dẫn trứng. Thân tử cung dài 3 - 5cm.
Cổ tử cung dài 10 - 18cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều cài răng lược, thông với âm đạo. Vách tử cung gồm 3 lớp được cấu tạo từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc. * Âm đạo (Vagina) Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và Đặng Đình Tín (1986) [16] cho rằng: âm đạo lợn có chiều dài 10 -12cm. Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh.
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi qua trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung. Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: Lớp tổ chức liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong. Các lớp cơ âm đạo liên kết với các lớp cơ tử cung. * Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis) Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ.
Tiền đình bao gồm: Màng trinh và hành tiền đình. Sau màng trinh là lỗ niệu đạo. 5 * Âm vật (Clitoris) Âm vật được phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, từ đó khuyến cáo các thú y viên chú ý khi thụ tinh nên kích thích lên âm vật để gây mê ì cho nái động dục làm tăng hiệu quả thụ tinh. * Âm hộ (Vulva) Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn và ngăn cách với nó bởi vùng hội âm.
Bên ngoài có 2 môi dính với nhau ở mép trên và mép dưới. Môi âm hộ có sắc tố đen, tuyến mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn trong và hơi dính. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái * Sự thành thục về tính Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo… đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản.
Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục. Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng. - Giống Các giống lợn khác nhau có độ tuổi thành thục về tính khác nhau. Theo Phạm Hữu Danh (1985) [2] cho rằng: Các giống lợn nội có tuổi thành thục về tính vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi).
Trong khi đó tuổi động dục ở lợn ngoại là từ 6 - 8 tháng tuổi, ở lợn lai F1 (nội x ngoại) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi. - Điều kiện nuôi dưỡng quản lý Chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý tốt thì gia súc sẽ sớm thành thục về tính và ngược lại. 6 - Điều kiện ngoại cảnh Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái hậu bị. Theo một số tác giả nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn cái (trên 90kg) động dục ở 165 ngày tuổi.
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc. Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt khối lượng nhất định tùy theo giống. * Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp - Chu kỳ tính Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ. Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf.
Khi nang Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng. Mỗi lần trứng rụng con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục. Do trứng rụng có tính chất chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ. Một chu kỳ tính của lợn giao động trong khoảng từ 18 - 22 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia làm 4 giai đoạn: + Giai đoạn trước động dục Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, giai đoạn này kéo dài 1 - 2 ngày.
Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, các noãn bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãn bao. Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra, niêm dịch chảy nhiều. Con vật bắt đầu xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở, có màu hồng tươi cuối giai đoạn có dịch nhờn chảy ra. Con vật giảm ăn, hay kêu rống, hay nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình.