Đặt vấn đề Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, ngành chăn nuôi thú y cũng đã và đang phát triển khá mạnh mẽ đem lại sự thay đổi tích cực cả về số lượng lẫn chất lượng thực phẩm cho nhu cầu trong nước, mà còn góp phần thu ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, đưa nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển. Ngành chăn nuôi thú y nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng là một nghề có truyền thống lâu đời và phổ biến của nhân dân ta. Tuy nhiên, với số lượng đàn ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục của các yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, đất đai, không khí, nguồn nước,… nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi khó lường đặc biệt là bệnh hô hấp ở lợn sẽ ngày càng tăng lên. Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, cùng với việc sử dụng vaccine phòng bệnh và sử dụng các loại kháng sinh để điều trị bệnh một cách kịp thời và hợp lý.
Bệnh viêm đường hô hấp là một trong những bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra như: Vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, Mycoplasma,… gây ảnh hưởng đến chức năng hô hấp của lợn. Mặc dù, tỷ lệ chết không cao nhưng bệnh làm giảm năng suất chăn nuôi do lợn nhiễm bệnh sinh trưởng chậm, làm tiêu tốn thức ăn. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm đường hô hấp ở đàn lợn thịt nuôi tại trại Chăn nuôi CP Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá đươ ̣c tình hình mắ c bê ̣nh viêm đường hô hấp trên đàn lơ ̣n thịt nuôi tại trại Chăn nuôi CP Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội.
- Đánh giá đươ ̣c hiê ̣u lực của thuốc Tylogenta và Vetrimoxin LA trong điều trị bệnh viêm đường hô hấp ở lợn thịt. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Cung cấp thêm tư liệu về tình hình mắc bệnh viêm đường hô hấp tại trại Chăn nuôi CP Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội. - Đưa ra được các phác đồ điều trị phù hợp với tình hình mắc bệnh của trại.
Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá đươ ̣c hiê ụ lực của thuố c sử du ̣ng , có thể đưa ra các phác đồ điề u tri ̣hiê ̣u quả bê ̣nh viêm đường hô hấp. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Những hiểu biế t về hê ̣ hô hấ p của lợn 2.
Đại cương về hệ hô hấp của lợn Bộ máy hô hấp là cơ quan chủ yếu của cơ thể làm nhiệm vụ trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường bên ngoài. Nhờ có sự trao đổi đó mà cơ thể hấp thu được oxy và thải khí cacbonic. Đối với tất cả các loài động vật thì một trong những yếu tố quyết định đến sự sống là có đủ lượng oxy trong mỗi phút, cơ thể động vật có vú cần 6 - 8ml oxy và thải trừ 250 ml cacbonic. Để có được lượng oxy thiết yếu này và thải được lượng cacbonic ra khỏi cơ thể phải thực hiện động tác hô hấp.
Hô hấp của cơ thể lợn chia thành 3 quá trình: - Hô hấp ngoài: là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường được thực hiện ở phổi thông qua các phế nang. - Hô hấp trong: Là quá trình sử dụng oxy của mô bào. Động tác hô hấp được điều khiển bằng cơ chế thần kinh - thể dịch và được thực hiện bởi cơ quan hô hấp. Cơ quan hô hấp của lợn gồm đường dẫn khí (mũi, hầu, thanh quản, khí quản, phế quản) và phổi.
Dọc đường dẫn khí có hệ thống thần kinh và hệ thống mạch máu phân bố dày đặc có tác dụng sưởi ấm không khí trước khi vào đến phổi. Trên niêm mạc đường hô hấp cũng có lớp lông rung luôn chuyển động hướng ra ngoài, do đó có thể đẩy các dị vật và bụi ra ngoài. Cơ quan cảm thụ trên niêm mạc đường hô hấp rất nhạy cảm với các thành phần lạ có trong không khí. Khi có vật lạ, cơ thể có phản xạ ho, hắt hơi nhằm đẩy vật lạ ra ngoài, không cho xâm nhập sâu vào trong đường hô hấp.
4 Khí oxy sau khi vào phổi và khí cacbonic thải ra được trao đổi tại phế nang. Phổi lợn bao gồm rất nhiều phế nang làm tăng bề mặt trao đổi khí. Diện tích phổi đạt 100 - 200 m2 tùy theo lứa tuổi. Nhịp thở trung bình của lợn là 20 - 30 lần/phút.
Lợn con có nhịp thở nhiều hơn khoảng 50 lần/phút và ở lợn nái nhịp thở ít hơn 13 - 15 lần/phút. Trong trường hợp gia súc mắc bệnh hoặc bị tác động mạnh thì tần số hấp có thể tăng lên hoặc giảm đi. Nguyên nhân gây nên bệnh viêm đường hô hấp ở lợn * Nguyên nhân do vi khuẩn Có nhiều tác giả khi nghiên cứu về hội chứng hô hấp ở lợn đều đưa ra nhận định: Vi khuẩn là nguyên nhân chủ yếu làm rối loạn hoạt động hô hấp ở lợn. “Trong số vi khuẩn gây hội chứng hô hấp ở lợn phải đề cập tới vai trò quan trọng của các vi khuẩn Pasteurella multocida, Bordetella bronchiseptica, Haemophilus parasuis, Actinobacillus pleuropneumoniae và Streptococcus spp”.
Ngoài ra còn có vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae gây viêm phổi mãn tính ở lợn hay còn gọi là bệnh suyễn lợn. + Vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng ở lợn, bệnh có tính chất lây lan mạnh, thường xảy ra khi điều kiện nhiệt độ, độ ẩm cao, thời tiết thay đổi đột ngột. Triệu chứng của bệnh chủ yếu là con vật sốt cao, ho, khó thở, bụng hóp lại để thở, tần số hô hấp tăng. Giai đoạn sau của bệnh xuất hiện các nốt xuất huyết, tụ huyết ở tai, bụng, phía trong đùi, có thể bị tiêu chảy.
+ Vi khuẩn Bordetella brochiseptica gây bệnh viêm phổi, viêm teo mũi lợn từ sau cai sữa đến 5 tháng tuổi. Triệu chứng của bệnh: Con vật ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi. Nước mũi lúc đầu lỏng, về sau trở nên đặc, có lẫn máu mủ; xoang mũi, xương của hàm trên bị teo, méo mó, biến dạng, hàm dưới nhô ra, mõm nghiêng về một bên hoặc các vùng bị teo lại một cách đối 5 xứng làm cho da bị nhăn lại, con vật khó lấy thức ăn. Bệnh có tỷ lệ chết thấp nhưng kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển của lợn (Cù Hữu Phú, 2002) [18].
+ Vi khuẩn Haemophilus parasuis là nguyên nhân gây bệnh thể kín (Glasser’s) và viêm phổi lợn trong giai đoạn từ sau 2 tuần đến 4 tháng tuổi. Triệu chứng chủ yếu của bệnh là con vật bị viêm các khớp như khớp gối và khớp cổ chân, liệt do viêm khớp, khó thở. Ngoài ra, ở thể viêm phổi thường thấy sự có mặt của haemophilus parasuis trong một số bệnh khác như viêm phổi hóa mủ do vi khuẩn Streptococcus spp, Staphylococcus spp gây ra. + Vi khuẩn Sctinobacilus pleuropneumoniae gây bệnh viêm phổi màng phổi lợn.
Cù Hữu Phú và cs, (2004) [19], Đặng Xuân Bình và cs (2007) [3], cho biết bệnh có tính chất lây lan mạnh, thường gây chết lợn choai; lợn trưởng thành cũng mắc bệnh nhưng ở thể nhẹ hơn. Bệnh xuất hiện trong đàn không có miễn dịch có thể gây cho 15 - 39% lợn mang triệu chứng lâm sàng như gầy yếu, sốt, kém ăn và khó thở. Một số lợn xuất hiện bệnh tích tím tái và một số con thấy bọt lẫn máu ở quanh mõm. Giai đoạn đầu chủ yếu là ho khan, sau đó bệnh tiến triển thì chuyển sang thể thở.
Con vật thở rất khó khăn, thở thể bụng. Bệnh không gây chết nhiều nhưng lợn sinh trưởng chậm, tiêu tốn thức ăn cao. Chết do mắc bệnh cấp tính thường xảy ra sau 4 - 6 tiếng sau khi có triệu chứng lâm sàng và trong nhiều trường hợp lợn có thể chết mà không có dấu hiệu gì. Tỷ lệ chết có thể lên đến 30 - 50% ở lợn bệnh.
Vi khuẩn gây bệnh có thể được truyền qua tiếp xúc trực tiếp hoặc qua không khí ở khoảng cách ngắn. Mầm bệnh có thể tồn tại qua thời gian dài trong nước lạnh 30 ngày ở 200C, nhiều giờ trong khí dung, tồn tại 4 ngày ở mô phổi và chất thải ra ở nhiệt độ phòng. Tuy nhiên Sctinobacillus pleuropneumoniae có thể bị diệt nhanh chóng ở điều kiện khô và các hóa chất sát trùng thông thường. 6 Khi mổ khám các ca bệnh cấp tính thấy các vùng tổ chức phổi không đều, thường đỏ thẫm, nhất là ở các thùy đuôi của phổi.
Hoại tử có thể thấy ở các vùng này trong các ca nặng, bị bệnh lâu. Màng phổi viêm dính có fibrin bao phủ trên bề mặt phổi, thường viêm dính lồng ngực kèm theo thẩm xuất dịch. + Vi khuẩn Streptococcus spp gây nhiễm trùng máu cấp tính, viêm màng não, viêm đa khớp và viêm phổi ở lợn. Bệnh thường xảy ra cấp tính, gây chết lợn đột ngột.
Bệnh có thể lây cho người và một số gia súc khác. Thể bệnh viêm não, màng não thường xảy ra ở lợn con từ 1 đến 3 tuần tuổi. Thể viêm khớp, viêm phổi thường xảy ra ở lợn con sau cai sữa và lợn con trưởng thành. Ngoài ra, Streptococcus cũng là tác nhân gây bệnh đường sinh dục, sảy thai ở lợn nái, gây viêm vú.
+ Vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae gây bệnh viêm phổi mãn tính (còn gọi là bệnh suyễn lợn) giai đoạn từ sau cai sữa đến khi trưởng thành, triệu chứng bệnh chủ yếu là ho dai dẳng, đặc biệt khi gặp thời tiết nóng ẩm, nuôi nhốt chật trội. Bệnh xảy ra chủ yếu ở thể mãn tính với triệu chứng ho kéo dài nhiều ngày (có thể hàng tháng, hàng năm ở lợn nái), ho khan, ho chủ yếu vào sáng sớm và về đêm. Con vật vẫn ăn uống bình thường nhưng sinh trưởng chậm. Bệnh thường thấy dưới dạng mãn tính ở lợn và ít khi thấy ở lợn trước 6 tuần tuổi.
Bệnh xảy ra nhiều nhất ở đàn lợn giai đoạn đang lớn và giai đoạn trưởng thành. Triệu chứng lâm sàng của viêm phổi do Mycoplasma có biểu hiện ho khan, con vật chậm lớn, không sốt hoặc ít có sự nguy hiểm về chức năng hô hấp nhưng sẽ trở nên nghiêm trọng khi sức đề kháng giảm sút, xuất hiện các vi khuẩn kế phát gây nên các dấu hiệu nặng hơn của dịch viêm phổi địa phương. Lợn biểu hiện sốt, mệt li bì, khó thở, da tím tái và chết. Bệnh thường lây lan do tiếp xúc trực tiếp hoặc giữa các đàn trong cùng khu vực.