CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Hội thoại và tín hiệu ngôn ngữ phi lời trong hội thoại 1. Khái niệm và vai trò của hội thoại Trong đời sống xã hội, con người không thể không giao tiếp và luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, phương tiện tư duy quan trọng nhất của con người.
Nhờ có giao tiếp bằng ngôn ngữ mà con người có thể thuận lợi trao đổi thông tin, bày tỏ quan điểm, cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ của mình. Trong thực tiễn, giao tiếp ngôn ngữ được thể hiện dưới hai dạng cơ bản là hội thoại và độc thoại. Trong đó, hội thoại là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người. Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, “hội” có nghĩa là họp lại với nhau, gặp nhau, “thoại” là lời nói, nói chuyện.
[1] Theo cách hiểu thông thường, giản đơn thì hội thoại nghĩa là hai hay nhiều người nói chuyện với nhau, tác động đến nhau bằng lời. Hội thoại được nghiên cứu đầu tiên tại Mỹ trên phương diện xã hội học, ngôn ngữ học, dân tộc ngôn ngữ học. Cho đến nay, ngành ngôn ngữ học của hầu hết các nước trên thế giới đều đã, đang bàn về hội thoại, đưa hội thoại trở thành đối tượng của Ngữ dụng học. Đã có nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm tìm hiểu, và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về hội thoại.
Ở chương V cuốn Đại cương Ngôn ngữ học – Tập 2, Ngữ dụng học, tác giả Đỗ Hữu đưa ra định nghĩa về hội thoại. Hội thoại là hình thức giao tiếp bằng lời diễn ra dưới dạng nói, diễn ra trong một không gian, thời gian nhất định, ở đó các nhân vật tham gia giao tiếp giữ một vai nhất định. Các cuộc thoại có thể có hoặc không có nghi thức. [5] Trong giáo trình “Dụng học Việt ngữ”, Nguyễn Thiện Giáp đưa ra khái niệm hội thoại: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người.
Đó là giao tiếp hai chiều, có sự tương tác qua lại giữa người nói và người nghe với sự liên kết luân phiên lượt”.664] 8 Tác giả Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và phản hồi trở lại. Lúc đó, vai của hai bên thay đổi. Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe. Đó là hội thoại.
Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, cản bản nhất của con người là hội thoại”.[8,tr76] Trong cuốn “Ngữ nghĩa lời hội thoại”, tác giả Đỗ Thị Kim Liên định nghĩa: “Hội thoại là một trong những dạng hoạt động của ngôn ngữ giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định”.18] Qua một số định nghĩa nêu trên có thể thấy, hội thoại có đặc tính là giao tiếp đương diện (mặt đối mặt). Những người tham gia hội thoại (đối ngôn) đều có mặt cùng nhau, họ có thể tương tác với nhau bằng các giác quan. Các hình thức của hội thoại gồm có: song thoại (hội thoại diễn ra giữa hai người), tam thoại (hội thoại diễn ra giữa ba người) và đa thoại (hội thoại diễn ra giữa nhiều người). Mỗi cuộc hội thoại bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc.
Trong quá trình hội thoại, người này nói, người kia nghe và phản hồi trở lại bằng lời nói. Lúc này, vai giao tiếp đã thay đổi, người nghe ban đầu đã trở thành người nói, cứ thế luân phiên nhau. Mỗi cuộc hội thoại có thể có nhiều chủ đề, mỗi chủ đề lại chứa đựng nhiều vấn đề. Tập hợp các lượt lời trao đổi về một vấn đề làm thành một đoạn thoại.
Có những căn cứ để phân biệt các cuộc hội thoại với nhau, như: thoại trường, số lượng nhân vật hội thoại, cương vị và tư cách của người tham gia hội thoại, đích của hội thoại, hình thức của hội thoại và ngữ vực của hội thoại, v. Hội thoại tồn tại dưới hai dạng: hội thoại trong sinh hoạt hằng ngày và hội thoại trong văn học (các cuộc thoại của các nhân vật trong tác phẩm văn học). Hội thoại trong sinh hoạt hằng ngày, như Đỗ Hữu Châu khẳng định, “là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [5; tr. Hội thoại là hoạt động bình thường của mọi người, chiếm tỉ lệ thời gian rất lớn, đến 70 - 80% thời gian con người sử dụng ngôn ngữ trong một ngày.
Trong văn học, hội thoại cũng chiếm vị trí quan trọng. Hội thoại trong văn học là kết quả sự sáng tạo của nhà văn dựa trên sự mô phỏng hội thoại trong đời sống. Các nhân vật trò chuyện với nhau tạo nên nhiều cuộc hội thoại khác nhau trong dòng 9 diễn biến của cốt truyện. Các cuộc hội thoại góp phần bộc lộ tính cách nhân vật, bộc lộ mâu thuẫn, thúc đẩy sự phát triển của tình tiết truyện, của các tính cách nhân vật.
Tuy không phải là sao chép nguyên xi, nhưng hội thoại trong văn học càng gần gũi với đời sống bao nhiêu thì càng chân thực và sinh động bấy nhiêu. Mặc dù vậy, trong tác phẩm văn học, tác giả có quyền sắp đặt để nhân vật hội thoại ở đâu, khi nào, với ai. để thể hiện tốt nhất ý đồ nghệ thuật của mình. Có thể nói, hội thoại trong văn học thể hiện sự tương tác giữa các chức năng cơ bản của lời nói tự nhiên như chức năng giao tiếp, chức năng nhận thức với chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật.
Hội thoại văn học tham gia vào quá trình xây dựng hình tượng, khắc hoạ tính cách nhân vật, cá thể hoá tình huống, thể hiện tư tưởng tác phẩm và phong cách nhà văn. Các nhân tố hội thoại Các nhân tố hội thoại được hiểu là các nhân tố có mặt trong một cuộc hội thoại, chi phối cuộc hội thoại đó và chi phối diễn ngôn về hình thức cũng như nội dung. Các nhân tố hội thoại gồm: hoàn cảnh hội thoại, nhân vật hội thoại, đề tài hội thoại, các vận động hội thoại, phương tiện hội thoại. Hoàn cảnh hội thoại Một cuộc hội thoại, cho dù dưới hình thức nào bao giờ nó cũng phải được diễn ra trong một khoảng không gian, thời gian nhất định.
Hoàn cảnh hội thoại chia ra: - Hoàn cảnh rộng: bao gồm toàn bộ những nhân tố xã hội, địa lí, chính trị, kinh tế, văn hóa, phong tục, tập quán,.của cộng đồng ngôn ngữ. - Hoàn cảnh hẹp: chính là thời gian, không gian, sự việc, hiện tượng,. khi diễn ra trong hoạt động giao tiếp. - Hiện thực lời nói: là các sự kiện, biến cố, sự việc, hoạt động,.
diễn ra trong thực tế và các trạng thái tâm trạng, tình cảm của con người khi tham gia hội thoại. Nhân vật hội thoại Nhân vật hội thoại (đối ngôn) là những người tham gia vào cuộc hội thoại. Giữa các đối ngôn có mối quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân. * Quan hệ vai giao tiếp: Trong một cuộc hội thoại có sự phân vai thành vai nói/phát diễn ngôn (SP1) và vai nghe/tiếp nhận diễn ngôn (SP2).
Trong giao tiếp đương diện, hai vai nói và 10 vai nghe thường có sự luân chuyển. * Quan hệ liên cá nhân: Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các đối ngôn với nhau. Quan hệ liên cá nhân có thể được xét ở các góc độ: quan hệ vị thế xã hội (quan hệ quyền lực), quan hệ vị thế giao tiếp và quan hệ thân cận (quan hệ khoảng cách) Mối quan hệ giữa các nhân vật tham gia hội thoại có thể được biểu hiện qua sơ đồ sau: Nhân vật giao tiếp Vai giao tiếp Quan hệ liên cá nhân Vị thế Vị thế Quan hệ xã hội giao tiếp thân cận Người Người + Thân – sơ Chức quyền, nói nghe Mạnh hay + Thắm thiết tuổi tác, nghề yếu - lạnh nhạt. nghiệp, địa vị xã hội, gia + Quý mến – xa lạ.
Mối quan hệđình… của các nhân vật tham gia hội thoại c. Đề tài hội thoại Cố định Di chuyển Chuyển hóa Đề tài là mảng hiện thực ngoài diễn ngôn được các nhân vật giao tiếp thỏa thuận chọn làm đối tượng để trao đổi trong giao tiếp. Đó có thể là những cái tồn tại, diễn tiến trong hiện thực ngoài ngôn ngữ, những cảm xúc, tư tưởng, ý định, nguyện vọng,. Hiện thực - đề tài của diễn ngôn có thể còn chính là bản thân ngôn ngữ hay thậm chí chính là các cuộc giao tiếp, các diễn ngôn đã có hay đang thực hiện.
Các vận động hội thoại Hội thoại là một vận động bằng ngôn ngữ, là cách các thoại nhân sử dụng các yếu tố ngôn ngữ để tác động qua lại lẫn nhau, nhằm đạt được mục đích nhất định. Bất cứ một cuộc thoại nào cũng gồm ba vận động chủ yếu: trao lời, trao đáp và tương tác. Vận động trao lời: Trao lời là vận động mà người nói (SP1), nói ra lượt lời của mình và hướng lượt lời của mình về phía người nghe (SP2), nhằm làm cho SP2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra dành cho SP2. Vận động trao – đáp: Trao – đáp là “một đơn vị cấu trúc trong cấu trúc hội thoại gồm hai “lượt lời” giữa hai người đối thoại với nhau, trong đó lời người nói 1 định hướng vào người nghe với sự chờ đợi lời hồi đáp từ người nghe, và người nghe ban đầu trở thành người nói 2 (SP2) đáp lại lời SP1”.
Nói cách khác, trao – đáp là sự lần lượt thay đổi vai nói – nghe giữa những người tham gia cuộc thoại. Vận động tương tác: Tương tác có nghĩa là tác động vào nhau, làm cho nhau biến đổi trong quá trình hội thoại giữa các nhân vật giao tiếp. Theo Đỗ Hữu Châu, sự tương tác được hiểu là các nhân vật giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau; tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại Ba vận động trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng cho hội thoại, trong đó hai vận động đầu do từng đối tác thực hiện nhằm phối hợp với nhau thành vận động thứ ba. Các hành vi ngôn ngữ trong hội thoại Hành vi ngôn ngữ, hiểu một cách đơn giản, là hành động được thực hiện nhờ phương tiện là ngôn ngữ.