Luận Văn: Nâng Cao Hiệu Quả Tín Dụng Cho Hộ Nghèo Tại NHCSXH Ninh Bình

Luận văn về giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cho hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Ninh Bình. Nghiên cứu chuyên sâu, đề xuất thiết thực.

Trường đại học

Ngân hàng Chính sách xã hội

Chuyên ngành

Tín dụng ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2007-2011

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn Cảnh Tín Dụng Ưu Đãi Cho Hộ Nghèo Tại Ninh Bình

Chương trình tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo là một trụ cột quan trọng trong chiến lược xóa đói giảm nghèo quốc gia. Tại Ninh Bình, giải pháp này được triển khai mạnh mẽ, trở thành đòn bẩy kinh tế giúp hàng ngàn gia đình vượt qua khó khăn. Nguyên nhân chính của đói nghèo thường xuất phát từ việc thiếu vốn để hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Nhận thức rõ điều này, Đảng và Nhà nước đã xác định tín dụng ngân hàng là một mắt xích không thể thiếu trong hệ thống các chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), đặc biệt là chi nhánh tại Ninh Bình, đã thể chế hóa chủ trương này. Sứ mệnh của Ngân hàng Chính sách xã hội Ninh Bình không chỉ dừng lại ở việc cung cấp vốn. Tổ chức này còn đóng vai trò là cầu nối, mang chính sách tín dụng của chính phủ đến đúng đối tượng, đảm bảo nguồn lực được sử dụng minh bạch và hiệu quả. Hoạt động của ngân hàng không vì mục tiêu lợi nhuận mà tập trung vào việc đảm bảo an sinh xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương một cách bền vững. Thông qua nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi, các hộ nghèo và hộ cận nghèo Ninh Bình có cơ hội đầu tư vào các mô hình kinh tế hiệu quả, từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững.

1.1. Vai trò cốt lõi của tín dụng chính sách xã hội

Tín dụng chính sách xã hội được xem là “chiếc chìa khóa” giúp người nghèo tự vươn lên. Thiếu vốn là một trong những rào cản lớn nhất, khiến các hộ gia đình rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo. Nguồn vốn ưu đãi tạo ra động lực ban đầu, giúp họ có điều kiện tiếp cận khoa học kỹ thuật, các giống cây trồng, vật nuôi mới. Theo tài liệu nghiên cứu, “vốn đối với họ là điều kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói nghèo”. Bằng cách cung cấp nguồn vốn vay hợp lý, chương trình không chỉ giải quyết vấn đề tài chính trước mắt mà còn khơi dậy tiềm năng, ý chí làm giàu của người dân. Hơn nữa, sự hiện diện của tín dụng chính thức góp phần đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi, một vấn nạn tồn tại dai dẳng ở nhiều vùng nông thôn.

1.2. Sứ mệnh của Ngân hàng Chính sách xã hội Ninh Bình

Ngân hàng Chính sách xã hội Ninh Bình hoạt động với mục tiêu xuyên suốt là thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ. Tổ chức này không chỉ giải ngân vốn mà còn phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ để giám sát và hỗ trợ người vay. Mô hình ủy thác qua các tổ chức này đảm bảo vốn đến đúng đối tượng, được sử dụng đúng mục đích và tăng tỷ lệ thu hồi nợ. Bằng cách này, ngân hàng không chỉ là một định chế tài chính mà còn là một tác nhân quan trọng trong việc củng cố hệ thống chính trị cơ sở, góp phần xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.

II. Phân Tích Thách Thức Khi Vay Vốn Hộ Nghèo Ở Ninh Bình

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, chương trình tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo tại Ninh Bình vẫn đối mặt với không ít thách thức. Những hạn chế này không chỉ đến từ cơ chế chính sách mà còn xuất phát từ thực tiễn triển khai và đặc điểm của đối tượng thụ hưởng. Một trong những vấn đề nổi cộm là tình trạng cho vay chưa đúng đối tượng, mức vốn và thời hạn vay đôi khi chưa phù hợp với chu kỳ sản xuất của từng ngành nghề. Tài liệu nghiên cứu giai đoạn 2007-2011 chỉ ra rằng, “quy mô tín dụng còn thấp; mô hình hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn bộc lộ nhiều hạn chế… dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn vay thấp”. Việc xác định hộ nghèo đủ điều kiện vay vốn còn bất cập. Danh sách đôi khi bao gồm cả những hộ không có năng lực sản xuất hoặc không thực sự cần vốn, trong khi những hộ nghèo nhất lại gặp khó khăn trong việc tiếp cận. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế, coi đây là vốn cấp phát, dẫn đến việc sử dụng sai mục đích. Những tồn tại này đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả chương trình vay vốn hộ nghèo.

2.1. Các rào cản trong việc tiếp cận nguồn vốn vay

Một bộ phận không nhỏ hộ nghèo, đặc biệt là những người ở vùng sâu, vùng xa, vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn vay. Nguyên nhân có thể do tâm lý e ngại rủi ro, sợ không trả được nợ. Một số khác thiếu thông tin về thủ tục vay vốn hộ nghèo, hoặc cảm thấy quy trình còn phức tạp. Hơn nữa, cách sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và thiếu kinh nghiệm khiến họ không xây dựng được phương án kinh doanh khả thi để thuyết phục tổ bình xét. Nghịch lý vẫn tồn tại: vốn ngân hàng còn, nhu cầu vay lớn, nhưng nhiều hộ nghèo vẫn phải tìm đến tín dụng đen với lãi suất cao. Điều này cho thấy cần phải đơn giản hóa thủ tục và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tư vấn để mọi hộ nghèo đều có cơ hội tiếp cận chính sách tín dụng nhân văn của nhà nước.

2.2. Rủi ro và hạn chế trong quá trình sử dụng vốn vay

Hiệu quả sử dụng vốn vay là yếu tố quyết định sự thành công của chương trình. Tuy nhiên, nhiều rủi ro có thể phát sinh. Rủi ro khách quan đến từ thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường, làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất. Rủi ro chủ quan xuất phát từ chính người vay: thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật, sử dụng vốn sai mục đích (chi tiêu sinh hoạt thay vì đầu tư sản xuất), hoặc thiếu ý thức trả nợ. Tài liệu gốc đã chỉ rõ một số hộ nghèo “xem nguồn vốn tín dụng của NHCSXH là vốn cấp phát, cho không của Nhà nước”. Điều này không chỉ gây thất thoát vốn mà còn làm giảm cơ hội của những người khác. Do đó, việc lồng ghép các chương trình khuyến nông, đào tạo nghề và tăng cường giám sát sau giải ngân là vô cùng cần thiết để đảm bảo thoát nghèo bền vững.

III. Phương Pháp Tối Ưu Hóa Chính Sách Tín Dụng Hộ Nghèo

Để nâng cao hiệu quả chương trình tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, việc hoàn thiện và tối ưu hóa chính sách tín dụng là yêu cầu cấp thiết. Các giải pháp cần tập trung vào việc điều chỉnh cơ chế cho vay để phù hợp hơn với thực tiễn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người nghèo tiếp cận và sử dụng vốn hiệu quả. Một trong những giải pháp trọng tâm là cải tiến điều kiện vay vốn và đơn giản hóa thủ tục vay vốn hộ nghèo. Việc công khai, minh bạch toàn bộ quy trình từ khâu bình xét đến giải ngân và thu hồi nợ sẽ giúp ngăn chặn tiêu cực và đảm bảo vốn đến đúng người cần. Song song đó, việc xem xét nâng mức cho vay là cần thiết. Mức vốn hiện tại đôi khi chưa đủ để các hộ gia đình đầu tư vào những mô hình kinh tế hiệu quả có quy mô lớn hơn. Việc đa dạng hóa các ngành nghề được ưu tiên đầu tư cũng là một hướng đi quan trọng, giúp người dân phát huy lợi thế của từng địa phương và giảm thiểu rủi ro khi chỉ phụ thuộc vào một vài loại cây trồng, vật nuôi truyền thống. Những điều chỉnh này sẽ góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế địa phương và giúp người dân thoát nghèo bền vững.

3.1. Hoàn thiện điều kiện và thủ tục vay vốn hộ nghèo

Quy trình vay vốn cần được cải tiến theo hướng đơn giản, rõ ràng và dễ tiếp cận. Giải pháp được đề xuất trong tài liệu nghiên cứu là “Thực hiện công khai hóa chính sách tín dụng của NHCSXH”. Điều này bao gồm việc niêm yết công khai các điều kiện vay vốn, lãi suất ưu đãi, quy trình và đối tượng thụ hưởng tại các điểm giao dịch xã và nhà văn hóa thôn. Việc bình xét hộ vay cần được thực hiện dân chủ, công bằng ngay từ cấp tổ tiết kiệm và vay vốn, với sự giám sát chặt chẽ của chính quyền và cộng đồng. Giảm bớt các giấy tờ không cần thiết và rút ngắn thời gian phê duyệt sẽ giúp các hộ nghèo nhanh chóng nắm bắt được cơ hội sản xuất, kinh doanh kịp thời vụ.

3.2. Nâng mức cho vay và đa dạng hóa ngành nghề đầu tư

Mức cho vay cần được điều chỉnh linh hoạt để đáp ứng nhu cầu thực tế. Một khoản vay đủ lớn sẽ tạo điều kiện cho hộ nghèo đầu tư bài bản, áp dụng công nghệ mới và mở rộng quy mô sản xuất. Bên cạnh đó, chính sách cần khuyến khích việc đa dạng hóa các ngành nghề đầu tư. Thay vì chỉ tập trung vào nông nghiệp truyền thống, cần hỗ trợ sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực khác như tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nông thôn, du lịch cộng đồng. Điều này không chỉ giúp tận dụng tiềm năng, lợi thế của địa phương mà còn tạo ra nhiều việc làm, giảm sự phụ thuộc vào nông nghiệp và tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc thị trường, góp phần thực hiện mục tiêu thoát nghèo bền vững.

IV. Cách Thức Tăng Cường Giám Sát Tín Dụng Cho Hộ Nghèo

Hiệu quả của tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo không chỉ phụ thuộc vào chính sách mà còn dựa rất nhiều vào công tác tổ chức thực hiện, đặc biệt là khâu kiểm tra, giám sát. Để đồng vốn phát huy tối đa tác dụng, cần xây dựng một cơ chế giám sát chặt chẽ, đa tầng, với sự tham gia của nhiều bên liên quan. Vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội là vô cùng quan trọng. Họ là những người gần dân, hiểu rõ hoàn cảnh từng hộ, do đó có thể tham gia hiệu quả vào quá trình từ bình xét, giải ngân đến đôn đốc trả nợ. Mô hình ủy thác cho vay qua các hội, đoàn thể đã chứng minh được tính ưu việt. Tuy nhiên, cần nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động của các tổ chức này. Cần “Tăng cường sự tham gia của chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể tại địa phương” và “Nâng cao chất lượng hoạt động ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội”. Việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát định kỳ của Ngân hàng Chính sách xã hội Ninh Bình kết hợp với giám sát chéo trong cộng đồng sẽ giúp phát hiện sớm các vấn đề phát sinh, ngăn chặn việc sử dụng nguồn vốn vay sai mục đích và hỗ trợ kịp thời các hộ gặp khó khăn.

4.1. Vai trò của chính quyền và tổ chức chính trị xã hội

Sự phối hợp giữa ngân hàng, chính quyền và các tổ chức như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên là yếu tố then chốt. Các tổ chức này đóng vai trò là “cánh tay nối dài” của Ngân hàng Chính sách xã hội Ninh Bình. Họ không chỉ giúp thẩm định, bình xét hộ vay một cách chính xác mà còn tổ chức các buổi sinh hoạt, chia sẻ kinh nghiệm làm ăn, hướng dẫn kỹ thuật. Dữ liệu từ Bảng 2.7 trong tài liệu gốc cho thấy tình hình ủy thác qua các hội đoàn thể là một kênh hiệu quả. Thông qua mạng lưới này, việc giám sát sử dụng vốn trở nên thường xuyên và sát sao hơn, đồng thời củng cố niềm tin của người dân vào chính sách tín dụng của Đảng và Nhà nước, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

4.2. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát nguồn vốn vay

Công tác kiểm tra, giám sát cần được thực hiện một cách thường xuyên và toàn diện, không chỉ trên giấy tờ mà phải đi sâu vào thực tế. Cán bộ tín dụng cần định kỳ đến thăm, kiểm tra trực tiếp mô hình sản xuất của hộ vay, nắm bắt những khó khăn, vướng mắc để có biện pháp hỗ trợ kịp thời. Ngoài việc kiểm tra từ phía ngân hàng, cần phát huy vai trò giám sát của cộng đồng thông qua các Tổ tiết kiệm và vay vốn. Các thành viên trong tổ có trách nhiệm giám sát lẫn nhau, đảm bảo các khoản vay được sử dụng đúng mục đích. Một cơ chế giám sát hiệu quả sẽ giúp giảm thiểu rủi ro, nâng cao tỷ lệ thu hồi nợ và đảm bảo sự bền vững của chương trình vay vốn hộ nghèo.

V. Đánh Giá Hiệu Quả Tín Dụng Hộ Nghèo Tại Ninh Bình

Giai đoạn 2007-2011, chương trình tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo tại Ninh Bình đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tác động tích cực trên cả phương diện kinh tế và xã hội. Nguồn vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội Ninh Bình đã thực sự trở thành một công cụ hữu hiệu, góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của tỉnh. Về mặt kinh tế, chương trình đã tạo ra một cú hích cho sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Hàng chục ngàn hộ gia đình đã được tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi, từ đó đầu tư mở rộng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo ra các mô hình kinh tế hiệu quả. Về mặt xã hội, tác động rõ nét nhất là việc cải thiện đời sống người dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo và đảm bảo an sinh xã hội. Chương trình đã giúp nhiều hộ thoát nghèo bền vững, con em họ có điều kiện học hành tốt hơn, góp phần nâng cao dân trí và ổn định xã hội. Theo Bảng 2.13, hiệu quả xã hội của chương trình được thể hiện qua việc hàng ngàn hộ thoát nghèo và hàng chục ngàn lao động có việc làm nhờ vốn vay.

5.1. Tác động kinh tế Hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương

Số liệu thống kê trong giai đoạn 2007-2011 cho thấy sự tăng trưởng ấn tượng của hoạt động tín dụng. Bảng 2.8 ghi nhận sự “Tăng trưởng doanh số cho vay hộ nghèo” liên tục qua các năm, và Bảng 2.9 cho thấy “Tăng trưởng dư nợ cho vay hộ nghèo” cũng ở mức cao. Điều này chứng tỏ chính sách tín dụng đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn của người dân. Nguồn vốn này đã được đầu tư vào nhiều lĩnh vực, từ trồng trọt, chăn nuôi đến các ngành nghề phụ, dịch vụ, tạo ra giá trị gia tăng và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Qua đó, chương trình đã đóng góp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.

5.2. Tác động xã hội Góp phần thoát nghèo bền vững

Mục tiêu cuối cùng của tín dụng chính sách xã hội là cải thiện chất lượng cuộc sống và giúp người dân thoát nghèo bền vững. Bảng 2.14 về “Hiệu quả tín dụng đối với bản thân hộ nghèo” cho thấy những thay đổi tích cực: thu nhập bình quân của hộ vay tăng, điều kiện nhà ở, sinh hoạt được cải thiện. Quan trọng hơn, chương trình đã tạo cơ hội cho hàng ngàn hộ gia đình vươn lên, khẳng định vị thế trong xã hội. Việc giải quyết việc làm, giảm các tệ nạn xã hội và củng cố tình làng nghĩa xóm thông qua các Tổ tiết kiệm và vay vốn là những giá trị xã hội to lớn mà chương trình mang lại. Những kết quả này khẳng định tính đúng đắn và nhân văn của chính sách vay vốn hộ nghèo.

VI. Hướng Đi Tương Lai Cho Tín Dụng Ưu Đãi Tại Ninh Bình

Để phát huy những kết quả đã đạt được và nâng cao hơn nữa hiệu quả của chương trình tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, Ninh Bình cần có những định hướng chiến lược cho tương lai. Các giải pháp không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện chính sách tín dụng mà cần có sự kết nối đồng bộ với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác. Tương lai của tín dụng chính sách xã hội nằm ở việc tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện, giúp người nghèo không chỉ có vốn mà còn có kiến thức, kỹ năng và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Cần tiếp tục đưa ra các kiến nghị chính sách vĩ mô để đảm bảo nguồn vốn ổn định và cơ chế hoạt động linh hoạt cho Ngân hàng Chính sách xã hội Ninh Bình. Đồng thời, tại địa phương, cần tập trung vào việc xây dựng và nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả, giúp người vay sử dụng vốn một cách tối ưu. Mục tiêu không chỉ là xóa đói giảm nghèo mà còn là giúp các hộ cận nghèo Ninh Bình và hộ mới thoát nghèo vươn lên làm giàu chính đáng, góp phần vào sự phát triển kinh tế địa phương một cách toàn diện.

6.1. Kiến nghị chính sách vĩ mô nhằm đảm bảo an sinh xã hội

Để chương trình hoạt động bền vững, cần có những kiến nghị ở tầm vĩ mô. Chính phủ và NHCSXH Việt Nam cần đảm bảo nguồn vốn trung và dài hạn ổn định, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Cần nghiên cứu điều chỉnh lãi suất ưu đãi một cách linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn phát triển và đặc thù của từng vùng. Quan trọng hơn, cần lồng ghép chặt chẽ chính sách tín dụng với các chính sách khác như bảo hiểm y tế, hỗ trợ giáo dục, dạy nghề. Một hệ thống chính sách đồng bộ sẽ tạo ra mạng lưới an sinh xã hội vững chắc, giúp người nghèo có điểm tựa để tự tin đầu tư sản xuất, kinh doanh và phòng ngừa rủi ro.

6.2. Xây dựng và nhân rộng mô hình kinh tế hiệu quả

Chỉ cung cấp vốn là chưa đủ. Hướng đi tương lai là phải gắn kết tín dụng với hoạt động khuyến nông, khuyến công và xúc tiến thương mại. Cần xây dựng các mô hình kinh tế hiệu quả thí điểm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và thế mạnh của Ninh Bình. Sau đó, tổ chức cho các hộ vay vốn tham quan, học hỏi và nhân rộng. Việc “hướng dẫn người nghèo cách làm ăn” phải được thực hiện một cách bài bản, từ khâu lựa chọn giống, áp dụng kỹ thuật canh tác đến việc kết nối với doanh nghiệp để bao tiêu sản phẩm. Khi đó, đồng vốn ưu đãi sẽ thực sự phát huy giá trị, tạo ra những chuỗi giá trị bền vững và giúp người dân thoát nghèo bền vững.

26/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo. - Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Ninh Bình. - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Ninh Bình. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO 1.

TỔNG QUAN VỀ ĐÓI NGHÈO 1. Khái niệm về đói nghèo Đói nghèo là một hiện tƣợng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc. Nó là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Ngƣời nghèo của quốc gia này có thể có mức sống cao hơn mức sống trung bình của quốc gia khác.

Tuy nhiên, chung nhất có thể hiểu nghèo đói là tình trạng thiếu thốn về nhiều phƣơng diện nhƣ: thu nhập thiếu do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản hàng ngày của cuộc sống, thiếu tài sản để tiêu dùng lúc bất trắc xảy ra và dễ bị tổn thƣơng trƣớc những mất mát. Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con ngƣời, mà những nhu cầu này đƣợc xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục, tập quán của địa phƣơng’’[30]. Bản thân khái niệm nghèo đói cũng bao hàm những mức độ nghèo khác nhau vì trong các nhóm dân cƣ có ngƣời thuộc nhóm nghèo nhƣng chƣa phải nghèo nhất trong xã hội mà bị rơi vào tình trạng đói kém, do đó, với cách tiếp cận khác nhau về tình trạng thiếu thốn sẽ phân biệt ngƣỡng nghèo khác nhau. Tuy nhiên, biểu hiện rõ nhất của ngƣời nghèo là không thể vƣơn tới các nhu cầu về văn hoá, tinh thần, hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thiểu nhất bởi lẽ thu nhập thực tế của họ hầu nhƣ chỉ dành chi toàn bộ cho ăn; thậm chí không đủ chi ăn, phần tích luỹ hầu nhƣ không có.

Để đánh giá đúng mức độ nghèo, ngƣời ta chia nghèo thành hai loại: nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối. Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống nhƣ nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế,… Nghèo tƣơng đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức trung bình của địa phƣơng, ở một thời kì nhất định. Nhƣ vậy, những quan điểm trên về đói nghèo phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của ngƣời nghèo là: không đƣợc thụ hƣởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con ngƣời, có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng và thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Tiêu chí về đói nghèo Theo Ngân hàng Thế giới, biện pháp thông dụng nhất để đo lƣờng đói nghèo là dựa trên mức thu nhập hoặc mức chi tiêu.

Một ngƣời đƣợc coi là nghèo, nếu mức độ chi tiêu hoặc thu nhập của anh ta xuống dƣới mức tối thiểu cần thiết để đáp ứng cho các nhu cầu căn bản. Mức tối thiếu này đƣợc gọi là “ngƣỡng đói nghèo”. Các yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản thay đổi theo thời gian và xã hội, do đó, “ngƣỡng đói nghèo” khác nhau theo thời gian, địa điểm và mỗi quốc gia sử dụng các ngƣỡng thích hợp với mức độ phát triển, chuẩn mực và giá trị xã hội của mình. Để tổng hợp và so sánh toàn cầu, Ngân hàng thế giới sử dụng ngƣỡng tham chiếu $1 và $2/ngày trong thuật ngữ “sức mua tƣơng đƣơng” (PPP) (PPP đo lƣờng sức mua tƣơng đối của đồng tiền các quốc gia).

Trong quá trình nghiên cứu đói nghèo và thực hiện chƣơng trình XĐGN ở Việt Nam, Ngân hàng thế giới đã đƣa ra hai mức chuẩn nghèo đối với Việt Nam: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất, là số tiền cần thiết để mua một số lƣơng thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng với lƣợng 2.100 calo/ngƣời/ngày, gọi là chuẩn nghèo về lƣơng thực, thực phẩm. Thứ hai, là số tiền cần thiết bao gồm cả chi tiêu cho lƣơng thực, thực phẩm và chi tiêu cho các nhu cầu cần thiết khác, gọi là chuẩn nghèo chung. Ở Việt Nam hiện nay đang sử dụng một loạt các chỉ tiêu đánh giá về nghèo đói do Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) cơ quan thƣờng trực của Chính phủ trong tổ chức, triển khai, thực hiện XĐGN đƣa ra nhƣ mức thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chi tiêu gia đình, hƣởng thụ, văn hoá, y tế. Trong đó, mức thu nhập là chỉ tiêu quan trọng nhất.

Các hộ đƣợc xếp vào diện nghèo, nếu thu nhập đầu ngƣời của họ ở dƣới mức chuẩn đƣợc xác định. Mức này khác nhau giữa thành thị, nông thôn và miền núi. Tỷ lệ nghèo đƣợc xác định bằng tỷ lệ giữa dân số có thu nhập dƣới ngƣỡng nghèo so với tổng dân số trong cùng một thời điểm. Theo quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 nhƣ sau: + Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ngƣời/tháng (từ 4.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống.

+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/ngƣời/tháng (từ 6.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống. + Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/ngƣời/tháng. + Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/ngƣời/tháng. Theo tiêu chí đánh giá này, tổng số hộ nghèo của cả nƣớc là khoảng trên 3,3 triệu hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 15,25%); tổng số hộ cận nghèo là khoảng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trên 1,8 triệu hộ (chiếm tỷ lệ 8,58%).

Ngƣời nghèo tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn (90%) và một số địa bàn khó khăn nhƣ vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núi Duyên hải miền Trung, Tây Nam Bộ. Tổng cục Thống kê thì dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu ngƣời để tính tỷ lệ hộ nghèo. Theo đó, ngƣỡng nghèo đƣợc xác định dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng, bao gồm lƣơng thực và phi lƣơng thực, chi tiêu cho lƣơng thực phải đủ đảm bảo 2.100 calo mỗi ngày cho 1 ngƣời. Các hộ đƣợc coi là thuộc diện nghèo, nếu mức thu nhập và chi tiêu không đảm bảo giỏ tiêu dùng này.

Phƣơng pháp đo lƣờng đói nghèo bằng chi tiêu tỏ ra là một phƣơng pháp tốt. Tuy nhiên, một trong những hạn chế của phƣơng pháp này là nó đòi hỏi rất nhiều số liệu, chi phí điều tra cao, thời gian dài. Nguyên nhân đói nghèo Có rất nhiều nguyên nhân gây nên đến nghèo đói, nó không chỉ đơn thuần là nhân tố về kinh tế hoặc thiên tai, địch hoạ gây ra. Tình trạng đói nghèo ở nƣớc ta có sự đan xen của nhiều nguyên nhân từ khách quan đến chủ quan.

Nhóm nguyên nhân khách quan, do môi trƣờng tự nhiên (vị trí, khí hậu, đất đai); kinh tế - xã hội (trình độ dân trí thấp, yếu tố tập quán của từng dân tộc, từng vùng miền, chính sách của Nhà nƣớc) và nhóm nguyên nhân do bản thân hộ nghèo. Nhóm nguyên nhân do môi trƣờng tự nhiên; kinh tế - xã hội a. Điều kiện tự nhiên: Đói nghèo tập trung khu vực nông thôn: tình trạng nghèo đói có đặc thù rõ rệt về mặt địa lý. Ở Việt Nam, với 70% dân số và đa số ngƣời nghèo sống ở nông thôn, đối với các dân tộc thiểu số, thì mức độ đói nghèo cao và nghiêm trọng hơn so với đa số ngƣời Kinh.

Năm 2010, tỷ lệ nghèo đói về lƣơng thực và thực phẩm ở nông thôn là 11,98%, trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận nguồn lực trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, công nghệ…), thị 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trƣờng tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất lƣợng sản phẩm kém, chủng loại sản phẩm nghèo nàn [5]. Bên cạnh đó, những ngƣời nông dân nghèo thƣờng không có điều kiện tiếp cận với thông tin thị trƣờng và không có khả năng tự chuyển đổi việc làm sang các ngành phi nông nghiệp. Phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa, nhất là phụ nữ chủ hộ độc thân, phụ nữ cao tuổi là những nhóm nghèo dễ bị tổn thƣơng nhất, khó khăn về kinh tế lại có vị thế thấp trong gia đình và cộng đồng, ít có cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi ích do chính sách mang lại. Vị trí địa lý không thuận lợi ở những nơi xa xôi hẻo lánh, địa hình phức tạp ảnh hƣởng nhiều đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và sinh hoạt của các hộ gia đình.

Ngƣời nghèo tập trung chủ yếu ở các vùng có điều kiện sống khó khăn tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn thuộc khu vực núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núi Duyên hải miền Trung, Tây Nam Bộ. Ở các vùng này, bên cạnh sự kém phát triển về cơ sở hạ tầng còn thƣờng xuyên xảy ra thiên tai nhƣ bão, lụt, hạn hán… khiến cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của ngƣời dân càng thêm khó khăn. Cũng chính do thƣờng sống ở những nơi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn mà hàng hoá của họ sản xuất ra thƣờng bị bán rẻ (do chi phí giao thông) hoặc không bán đƣợc, chất lƣợng hàng hoá giảm sút do lƣu thông không kịp thời. Đói nghèo trong khu vực thành thị: Đa số ngƣời nghèo ở thành thị tập trung vào những ngƣời không có nghề nghiệp ổn định nhƣ bán hàng rong, tiểu thủ công nhƣng không có đăng ký kinh doanh và lao động làm việc không có bảo hiểm.

Bên cạnh đó, khu vực thành thị còn có một nhóm dân cƣ bị “nghèo hóa” do quá trình đô thị hóa, di cƣ vì đất nông nghiệp bị thu hẹp, nhƣ ngƣời nhập cƣ làm xe ôm, phụ hồ, xích lô, hàng rong, ngƣời lao động nghèo làm công nhân trong các khu công nghiệp và cả những ngƣời thất nghiệp. Nhóm 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ