Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi và câu hỏi nghiên cứu. Đồng thời, trình bày ý nghĩa khoa học, thực tiễn của nghiên cứu và cấu trúc của luận văn. Chương 2: Tổng quan tài liệu Mô tả lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu gồm các lý thuyết về tín dụng thương mại, hiệu quả tài chính doanh nghiệp, khái niệm và vai trò của ngành xây dựng. Đồng thời, trình bày lược khảo các tài liệu có liên quan về tín dụng thương mại và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp để làm cơ sở cho việc thiết kế các nội dung và mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Từ cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu lược khảo ở Chương 2, Chương này trình bày mô hình nghiên cứu, mô tả chi tiết định lượng và đo lường các biến trong mô hình. Bên cạnh đó, trình bày chi tiết phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp ước lượng và cách thực hiện kiểm định mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận Trình bày và diễn giải kết quả nghiên cứu gồm mô tả mẫu số liệu khảo sát, thực hiện các phương pháp ước lượng OLS, FE, RE, FGLS và dùng các kiểm định để lựa chọn phương pháp phù hợp. Từ đó, phân tích và thảo luận kết quả ảnh hưởng của tín dụng thươn mại đến hiệu quả tài chính ngành xây dựng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam. Đồng thời, đưa ra các khuyến nghị giúp doanh nghiệp ngành xây dựng nâng cao hiệu quả tài chính.
Chương 5: Kết luận và đề xuất kiến nghị Tóm tắt kết quả đạt được theo mục tiêu của nghiên cứu đã đề ra. Đồng thời, đề xuất đến Thủ tướng Chính phủ, chính quyền địa phương và các tổ chức tín dụng một số kiến nghị nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp ngành xây dựng nâng cao hiệu quả hoạt động, tiếp tục đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế Đất nước. 4 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tín dụng thương mại 2.1 Khái niệm về tín dụng thương mại Theo Nadiri (1969), tín dụng thương mại (Trade Credit) được biểu thị là khoản phải thu ngắn hạn từ người mua (Accounts Receivable - AR) và khoản phải trả ngắn hạn cho người bán (Accounts Payable - AP) trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp sản xuất. Mian & Smith (1992) cho rằng, tín dụng thương mại là một thỏa thuận giữa người mua và người bán, trong đó người bán cho phép thanh toán chậm cho sản phẩm của mình thay vì thanh toán bằng tiền mặt.
Theo Lee & Stowe (1993), tín dụng thương mại là một phần của giao dịch tài chính và hàng hóa nói chung, trong đó một bên là doanh nghiệp bán hàng hóa hoặc dịch vụ và đồng thời cấp tín dụng cho doanh nghiệp mua hàng bên kia. Đối với người mua, nó là một nguồn tài trợ thông qua các khoản phải trả, trong khi đối với người bán, tín dụng thương mại là một khoản đầu tư vào các khoản phải thu. Theo Petersen & Rajan (1997), tín dụng thương mại là hình thức tín dụng trong đó người bán (nhà cung cấp) đồng ý cho người mua trả chậm giá trị hàng hóa đã mua trong một khoảng thời gian nhất định. Dary & James (2020) cho biết thêm, tín dụng thương mại có nhiều hình thức khác nhau.
Khi một doanh nghiệp bán hàng hóa cho người mua và không nhận được khoản thanh toán tiền mặt ngay lập tức, thì doanh nghiệp đó đang cấp tín dụng cho người mua (khoản phải thu). Khi một doanh nghiệp mua hàng hóa từ một nhà cung cấp và việc thanh toán được hoãn lại trong một khoảng thời gian sau đó, thì đang nhận được tín dụng từ nhà cung cấp (các khoản phải trả). Ngoài ra, khi người mua thanh toán tiền hàng trước khi giao hàng, dưới dạng trả trước hoặc trả trước, người mua đang cấp tín dụng cho nhà cung cấp (Schwartz, 1974; Ferris, 1981). Điều này còn được gọi là tín dụng thương mại ngược.2 Vai trò của tín dụng thương mại đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tín dụng thương mại được công nhận là một thành phần quan trọng của tài chính doanh nghiệp ở hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường trên thế giới.
Trong số các yếu tố tác động đến hoạt động của doanh nghiệp, tài chính đã được chứng minh là đóng một vai trò quan trọng, cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm. Tín dụng thương mại là một nguồn của nguồn tài chính không thể thiếu đối với các doanh nghiệp, ngay cả trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo (Brennan et al. Theo Klapper et al. (2012) ước tính 90% 5 thương mại hàng hóa toàn cầu được tài trợ bởi tín dụng thương mại trong năm 2007.
Tín dụng thương mại là một nguồn vốn ngắn hạn quan trọng góp phần đảm bảo tính liên tục của hoạt động kinh doanh, giúp tăng doanh thu và sự phát triển của doanh nghiệp. Tín dụng thương mại cho phép các nhà quản lý tài chính đưa ra dự báo thực tế về dòng tiền theo các kỳ tín dụng thương mại và không mất phí. Theo Marotta (2005), Ý dẫn đầu thế giới về các giao dịch tín dụng thương mại, với hầu hết các giao dịch thương mại giữa các doanh nghiệp đều diễn ra theo các điều kiện tín dụng thương mại. Elliehausen & Wolken (1993) báo cáo rằng tín dụng thương mại tồn tại trong 80% doanh nghiệp ở Vương quốc Anh.
Trong số các doanh nghiệp thực phẩm nông nghiệp được niêm yết công khai ở Hoa Kỳ, gần như tất cả các doanh nghiệp đều có cung cấp tín dụng thương mại (Dary & James, 2020). Ở Pháp, Boissey & Gropp (2007) nhận thấy hầu hết mọi doanh nghiệp đều mở rộng tín dụng thương mại cho khách hàng và nhận tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp. Carvalho & Schiozer (2015) báo cáo rằng 67,74% tổng số lần mua hàng giữa các doanh nghiệpở Brazil là trên cơ sở tín dụng thương mại, trong khi Vaidya (2011) báo cáo khoản phải thu và phải trả lần lượt là 24% và 17% tổng doanh số bán hàng ở Ấn Độ. Ở Châu Phi, Fafchamps et al.
(1995) cho biết lần lượt 81% và 64% tổng số mua và bán của các doanh nghiệp trên cơ sở tín dụng thươn mại ở Zimbabwe. Từ việc sử dụng rộng rãi tín dụng thương mại nêu trên, cho thấy rằng nó có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp ở các thị trường tài chính kém phát triển, việc vay vốn ngân hàng không phải lúc nào cũng là một giải pháp do các điều kiện về mức độ tín nhiệm, tài sản thế chấp và khả năng tạo thu nhập của các doanh nghiệp. Niskanen & Niskanen (2006) cho rằng các nhà quản lý doanh nghiệp thường phàn nàn về việc không thể vay đủ vốn với tỷ lệ mong muốn.
Các doanh nghiệp nhỏ phải đối mặt với những hạn chế cụ thể trong việc huy động vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc sẽ huy động được vốn vay nhưng với lãi suất cao (Storey, 1994). Khoản vay ngân hàng chính thức được phát hành sau một thủ tục kéo dài và phức tạp. Điều này cho thấy rằng một doanh nghiệp có thể nhận được một khoản vay ngân hàng sau khi trải qua nhiều điều khoản, điều kiện khó khăn, mất nhiều thời gian và không hề đơn giản. Vì lý do này, các doanh nghiệp mới thâm nhập thị trường và các doanh nghiệp quy mô nhỏ có thể không nhận được các khoản tín dụng ngân hàng vì họ không đáp ứng đủ các yêu cầu khắc khe của các ngân hàng.
Các nhà lý thuyết kinh tế cho rằng những vấn đề này là do những mâu thuẫn của thị trường như sự bất cân xứng về thông tin và chi phí đại diện. Trong khi đó, đối với tín dụng thương mại, các doanh nghiệp có thể dễ dàng nhận được các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải làm các thủ tục dài dòng và không cần phải thanh toán ngay bất kỳ chi phí nào. Do tầm quan trọng của tín dụng thương mại nên có rất nhiều nghiên cứu về nó. Từ đó, đã ra đời nhiều lý thuyết để giải thích rõ thêm vai trò của tín dụng thương mại như sau: 6 2.1 Các lý thuyết về lợi thế tài trợ Đây là những lý thuyết đầu tiên về tín dụng thương mại xuất hiện.
Tín dụng thương mại phát sinh từ sự không hoàn hảo của thị trường tài chính (Emery, 1984). Có các phiên bản của lý thuyết tài trợ bao gồm lý thuyết lợi thế thông tin, lý thuyết thanh khoản (hay kiệt quệ tài chính), lý thuyết thanh lý tài sản và các tác động của chính sách tiền tệ. Lý thuyết lợi thế thông tin cho rằng các nhà cung cấp có lợi thế về thông tin so với các trung gian tài chính truyền thống và do đó có thể tham gia vào hoạt động trung gian tài chính với chi phí giao dịch thấp hơn. Các nhà cung cấp thu được thông tin về khách hàng của họ do sự gần gũi và tương tác thường xuyên (Petersen & Rajan, 1997), giúp họ dễ dàng hơn và rẻ hơn trong việc thiết lập mức độ tín nhiệm của khách hàng trước đó cũng như giám sát và thực thi các hợp đồng tín dụng (Emery, 1984).
Trong các trường hợp vỡ nợ, các nhà cung cấp có thể xem là cố ý hoặc vô ý, để thực hiện các hành động thích hợp. Ngoài ra, các nhà cung cấp giao dịch với các khách hàng thường là cùng ngành, làm cho việc thu thập thông tin dễ dàng hơn và rẻ hơn so với các tổ chức tín dụng khác, do các tổ chức này cung cấp các khoản vay cho nghiều doanh nghiệp với các ngành nghề khác nhau. Lý thuyết thanh lý tài sản chỉ ra rằng các doanh nghiệp cung tín dụng thương mại có lợi thế hơn các trung gian tài chính truyền thống trong việc thu giữ và thanh lý tài sản của những người đi vay mặc định với chi phí giao dịch thấp hơn (Emery, 1984; Petersen & Rajan, 1997). Điều này là do các nhà cung cấp và người mua hoạt động trong các chuỗi giá trị giống nhau hoặc tương tự nhau (Emery, 1984).
Do đó, họ có thể dễ dàng thu hồi và chuyển hàng hóa sang cho các khách hàng khác trong chuỗi. Lý thuyết thanh khoản tập trung vào các nhà cung cấp có thanh khoản cao sẽ đầu tư vào tín dụng thương mại để tạo ra lợi nhuận. Theo Schwartz (1974), các doanh nghiệp có khả năng tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn và rẻ hơn trên thị trường vốn có thể có động cơ đi vay để tài trợ cho các khách hàng của mình. Đây được coi là vai trò “tái phân phối” của tín dụng thương mại (Meltzer, 1960).