Đặc điểm tế bào nhân sơ (Prokaryote) Các cơ thể đại diện cho tế bào nhân sơ gồm: vi khuẩn và vi khuẩn lam. Tế bào nhân sơ thường có kích thước bé từ 1-3m. Tế bào nhân sơ có cấu tạo gồm: - Một màng sinh chất có bản chất hoá học là lipoprotein bao quanh khối tế bào chất. - Khối tế bào chất chứa ribosom, chất vùi là chất dự trữ, các mezosom là phần màng sinh chất lõm vào trong khối tế bào chất và liên hệ với nucleoid.
Các mezosom có vai trò tương tự ty thể vì nó có chứa một số enzym và nhân tố của quá trình oxyphotphoril hoá. - Chưa có màng nhân, có vùng nhân được gọi là nucleoid, là phần tế bào chất chứa sợi ADN ở dạng siêu xoắn. TBC chứa các phân tử ADN dạng vòng sao chép độc lập với ADN vùng nhân đó là các plasmid. - Bao ngoài màng sinh chất là lớp thành vỏ dầy 8-30nm có thành phần sinh hoá là polisaccarit liên kết với axit amin.
Đặc điểm tế bào nhân chuẩn (Eukaryote) Đại diện là các tế bào của nấm, thực vật và động vật Tế bào nhân chuẩn có cấu tạo gồm: - Màng sinh chất có bản chất hoá học là lipoprotein dầy 8,5nm bao quanh khối tế bào chất. - Khối tế bào chất nằm giữa nhân và màng sinh chất, có cấu tạo phức tạp gồm: Các bào quan như mạng lưới nội chất, ty thể, lục lạp, thể golgi, lyzosom, peroxysom, trung thể.Trong các tế bào này chứa các vi ống và vi sợi tạo nên bộ xương của tế bào. Các chất vùi là các chất tồn dư hoặc dự trữ trong tế bào chất ở dạng hạt (hạt glicogen, hạt tinh bột), các giọt (giọt tinh dầu), các tinh thể vô cơ, hữu cơ, sắc tố. - Nhân được bao bọc bởi màng nhân là lớp màng kép có nhiều lỗ nhỏ.
Bên trong màng nhân là dịch nhân chứa chất nhiễm sắc có thành phần sinh hoá là nucleohiston. Hạch nhân được cấu tạo từ các sợi và hạt ribonucleoprotein, nơi sản sinh ra ribosom. Phân biệt tế bào Prokaryote với tế bào Eukaryote: Tế bào Prokaryote Tế bào Eukaryote Vi khuẩn, tảo lam Nấm, thực vật, động vật Kích thước bé (1-3m) Kích thước lớn (3-30 m) Cấu tạo đơn giản Có cấu tạo phức tạp Vật chất di truyền là phân tử ADN trần Vật chất di truyền là ADN liên kết với histon dạng vòng nằm phân tán trong tế bào tạo nên NST nằm trong nhân tế bào chất Chưa có nhân, chỉ có nucleoid là phần Có nhân với màng nhân. Trong nhân chứa tế bào chất chứa ADN chất nhiễm sắc và hạch nhân Tế bào chất chỉ chứa các bào quan đơn Tế bào chất được phân vùng và chứa các bào giản như: riboxom, mezoxom quan phức tạp như mạng lưới nội chất, riboxom.
ty thể, lạp thể, thể golgi, lyzoxom, peroxixom, trung thể. Phương thức phân bào đơn giản bằng Phương thức phân bào phức tạp (mitosis, cách phân đôi meiosis) Có lông, roi cấu tạo đơn giản Có cấu trúc lông roi phức tạp theo kiểu 9+1 Ph©n biÖt tÕ bµo thùc vËt vµ tÕ bµo ®éng vËt ë c¸c ®iÓm c¬ b¶n sau: Tế bào thực vật Tế bào động vật Có thành xenlulo Không có thành xenlulo Có lục lạp – tự dưỡng Không có lục lạp – dị dưỡng Chất dự trữ là tinh bột Chất dự trữ là glicogen Phân bào không có sao. Phân chia tế bào Phân bào có sao. Phân chia tế bào chất chất bằng vách ngang ở trung tâm bằng hình thành eo thắt ở trung tâm Hệ thống không bào phát triển Ít khi có không bào III.
Cấu trúc của tế bào vi khuẩn: Vách cứng và cấu trúc đơn giản bên trong. Đại diện: vi khuẩn (bacteria) và vi khuẩn lam = TẢO LAM (cyanobacteria). - Kích thước bé từ 1-3m. - Bao ngoài màng sinh chất là lớp thành vỏ dày 8-30nm có thành phần sinh hoá là polisaccarit liên kết với axit amin => VÁCH CỨNG.
- Một màng sinh chất có bản chất hoá học là lipoproteit bao quanh khối tế bào chất. - Khối tế bào chất chứa các bào quan đơn gian, bao gồm : ribosom, chất vùi là chất dự trữ, các mezosom là phần màng sinh chất lõm vào trong khối tế bào chất và liên hệ với nucleoid. Các mezosom có vai trò tương tự ty thể vì nó có chứa một số enzyme và nhân tố của quá trình oxyphotphoril hoá. - Tế bào nhân sơ chưa có màng nhân, có vùng nhân được gọi là nucleoid, đây là phần tế bào chất chứa phân tử ADN ở dạng vòng, siêu xoắn, không liên kết với protein.
CẤU TRÚC CỦA TẾ BÀO EUKARYOT V. Cấu trúc và chức năng của màng sinh chất - Khái niệm : Màng sinh chất là màng lipoproteit bao bọc khối tế bào chất của tế bào. - Thành phần : Lipit (25 – 75%); protein (25 – 75%), Gluxit (2 – 10%). - Mô hình phân tử của màng • Mô hình cấu trúc màng của Davson-Danielli (1952) được thiết lập gồm các phân tử protein tạo thành 2 lớp, còn lớp kép lipit nằm ở giữa 2 lớp protein đó.
• Mô hình màng khảm lỏng của Singer-Nicolson (1972) cho rằng các phân tử protein và lipit khảm vào nhau. Mô hình này hợp lý hơn, khi quan niệm các phân tử protein định khu, phân tán rất linh hoạt nhờ kiểu khảm vào lớp kép lipit. Lipit: chiếm khoảng một nửa khối lượng của màng (25-75%), gồm các loại chủ yếu sau: Photpholipit; cholesterol; các glicolipit. Đặc tính của lipit màng +) Lipit là loại phân tử lưỡng tính, có một đầu ưa nước, gọi là đầu phân cực và đầu kỵ nước gọi là đầu không phân cực.
Ví dụ: Phân tử photpholipit có đầu ưa nước được cấu tạo từ cholin, photphat và glicerol, và hai “đuôi” ghét nước, có thể là mạch hydrocacbon no (CH 2 – CH2 – CH2 .) hoặc chưa no (CH 2 – CH = CH – CH2 .) trong đó thường có 12-24 nguyên tử C. +) Trong môi trường nước, do tính lưỡng cực mà các phân tử lipit sắp xếp thành lớp kép có đầu phân cực quay về phía nước và đuôi ghét nước quay vào nhau. +) Khi các mạch hydrocabon chưa no (có liên kết đôi) thì lớp kép lipit ở trạng thái lỏng, gọi là trạng thái sol, còn khi mạch hydrocacbon no thì lớp kép lipit trở nên đặc hơn, độ nhớt tăng lên, tức là chuyển sang trạng thái gel. +) Cholesterol là một loại lipit quan trọng của màng.
Trong màng sinh chất của tế bào nhân chuẩn được sắp xếp theo cách cứ một phân tử photpholipit sẽ có 1 phân tử cholesterol, do vậy khi thay đổi tỷ lệ đó sẽ ảnh hưởng đến tính chất sol ↔ gel. Protein : chiếm khoảng 25-75%, trung bình là 50%. Chức năng: Cấu trúc, hoạt tính enzyme, vận chuyển các chất qua màng, thụ quan màng (receptor) nhận biết các tế bào khác, thu nhận thông tin, ức chế tiếp xúc, miễn dịch,. Phân biệt 2 loại protein trong cấu trúc màng là các protein xuyên màng và các protein rìa màng (ở phía ngoài hoặc phía trong của màng).
• Protein xuyên màng: liên kết rất chặt với lớp kép lipit qua chuỗi axit béo. • Protein rìa màng: liên kết với cực ưa nước lớp lipit kép và xếp ở rìa ngoài (tiếp xúc với môi trường ngoại bào) hoặc rìa trong của màng (tiếp xúc với tế bào chất). Protein rìa ngoài thường liên kết với gluxit tạo nên các glicoproteit, còn protein rìa trong thường liên kết với các protein của tế bào chất như ankyrin và qua đó liên hệ với bộ khung xương tế bào, tạo ra hệ thống neo màng và có tác dụng điều chỉnh hình dạng tế bào. • Các glicoproteit và lớp áo tế bào Các glicoproteit và glicolipit ở phía ngoài màng tạo nên tính bất đối xứng của màng và là thành phần của lớp áo tế bào (cell coat).
Gluxit: chiếm khoảng 2-10%, gồm những mạch oligosaccarit hoặc polisaccarit liên kết với các protein màng tạo nên các glicoproteit, hoặc liên kết với lipit tạo nên glicolipit và luôn bám ở mặt ngoài của màng. Phần gluxit thò ra ngoài màng tạo nên lớp cấu trúc sợi, là lớp áo có chức năng bảo vệ màng, tạo kháng nguyên bề mặt, liên kết với tế bào bên cạnh. Chức năng của màng sinh chất (!) Ngăn cách tế bào với môi trường, làm cho tế bào thành một hệ thống riêng biệt. (!!) Màng sinh chất giữ cho tế bào có hình dạng ổn định, nhưng do tính linh hoạt màng tế bào có thể thay đổi hình dạng đáp ứng các chức năng của cơ thể, như chuyển động amip, thực bào, uống bào.
(!!!)Thực hiện trao đổi chất giữa tế bào và môi trường. (!!!!) Màng sinh chất ở vi khuẩn còn có vai trò hô hấp và tham gia và phân chia tế bào. CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA CÁC BÀO QUAN (1) Ribosom Thành phần hoá học: Gồm protein và rARN => B/C: ribonucleoprotein ARN của ribosom (rARN) chiếm khoảng 80%-90% tổng số ARN của tế bào. Protein và rARN liên kết với nhau tạo thành ribosom là nhờ liên kết hydro và ion Mg2+.
Cấu trúc siêu hiển vi: • Gồm hai tiểu phần (tiểu phần lớn và tiểu phần nhỏ). Ví dụ: ribosom của prokaryote có hằng số lắng 70S gồm 2 đơn vị nhỏ cấu thành là đơn vị 50S và 30S; ribosom của eukaryote có kích thước lớn hơn, thành phần rARN và protein phức tạp hơn và hằng số lắng là 80S gồm 2 tiểu đơn vị 60S (rARN loại 28S; 5,8S; 5S và 45 phân tử protein) và 40S (rARN 18S và 33 phân tử protein). • Các tiểu phần lớn và nhỏ của ribosom có thể tách nhau ra khi trong môi trường có nồng độ các cation (Mg, Ca, Co, Mn) giảm xuống và khi nồng độ các cation đó lại tăng cao thì hai tiểu phần lại liên kết với nhau tạo thành ribosom hoàn chỉnh. • Trên tiểu phần lớn của ribosom có 3 vùng (điểm) đáng lưu ý: - Vùng liên kết peptidil-tARN (vùng P) có vai trò cố định tARN khi đang lắp ráp các axit amin vào mạch polipeptid.
- Vùng liên kết amino-acyl - tARN (vùng A) có vai trò cố định tARN đang mang axit amin chuyển vào ribosom. - Vùng E (exit): Vị trí chờ ra của tARN. Chức năng • Ribosom là nơi tổng hợp protein, có thể xem là phân xưởng tổng hợp protein của tế bào sống. Tại ribosom các axit amin trong môi trường nội bào được tập hợp, lắp ráp tạo thành mạch polipeptid do thông tin di truyền trong mạch mARN quy định.
Sự tổng hợp protein trên ribosom được gọi là sự dịch mã hay giải mã. • Ribosom là có thể gắn với mARN lạ và loại protein được tổng hợp là do mật mã chứa trong mARN quy định. Ví dụ khi virus xâm nhập vào vi khuẩn thì ribosom của vi khuẩn đã tổng hợp được protein của virus.