Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP 1. Tổng quan về dạy học tích hợp 1. Trên thế giới Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại hiện đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới. Cách tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình đã trở thành xu thế phát triển GD trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua.
Tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại bên cạnh các trào lưu sư phạm theo mục tiêu, giải quyết vấn đề, phân hóa, tương tác…Trào lưu sư phạm tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở người học những năng lực rõ ràng, có dự tính những hoạt động tích hợp trong đó người học học cách sử dụng phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác đã lĩnh hội một cách riêng rẽ. Cách tiếp cận tích hợp trong xây dựng chương trình GD bắt đầu được đề cao ở Mỹ và các nước châu Âu từ những năm 1960 của thế kỷ XX. Gần một thập kỷ sau đó vấn đề này mới được quan tâm ở châu Á và ở Việt Nam (vào những năm 1970 - 1980 của thế kỷ XX). Ở khu vực Đông Nam Á hầu hết các nước đã triển khai quan điểm tích hợp ở những mức độ nhất định.
Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, UNESCO đã có những hội thảo với các báo cáo về việc thực hiện quan điểm tích hợp của các nước tới dự. Theo thống kê của UNESCO, từ năm 1960 đến năm 1974 trong số 392 chương trình được điều tra đã có 208 chương trình môn khoa học thể hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau từ liên môn, kết hợp đến tích hợp hoàn toàn theo những chủ đề. Từ năm 1960, đã có nhiều hội nghị quốc tế bàn về các chương trình môn tích hợp. Năm 1981, một tổ chức quốc tế đã được thành lập để cung cấp các thông tin về các chương trình môn tích hợp 6 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ nhằm thúc đẩy việc áp dụng quan điểm tích hợp trong việc thiết kế chương trình các môn học trên thế giới [6].
Ở Việt Nam Từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông, chủ yếu ở bậc Tiểu học và THCS. Trước đó, tinh thần giảng dạy tích hợp chỉ mới được thực hiện ở những mức độ thấp như liên hệ, phối hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học hay phân môn khác nhau để giải quyết một vấn đề giảng dạy. Cách tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình GD phổ thông ở nước ta được bắt đầu từ cuộc cải cách GD lần thức 3 (1979). Một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận trên là lần đầu tiên trong chương trình, các kiến thức về khoa học với tên gọi là Tự nhiên và Xã hội được học từ lớp 1 đến lớp 5.
Môn học Tự nhiên và Xã hội trong chương trình cải cách giai đoạn I được cấu trúc gồm 7 chủ đề: Gia đình, Trường học, Quê hương, Thực vật, Động vật, Cơ thể người, Bầu trời và Trái đất. Giai đoạn II gồm 3 phân môn: Khoa học, Địa lí và Lịch sử. Phân môn Khoa học gồm các kiến thức thuộc các khoa học tự nhiên như: Sinh học, Vật lí, Hóa học, Địa lí đại cương. Như vậy, trong chương trình cải cách, tích hợp chủ yếu thực hiện ở giai đoạn I và phân môn Khoa học ở giai đoạn II, còn các phân môn Địa lí và Lịch sử vẫn tồn tại một cách độc lập.
Chương trình Tiểu học mới (2000), môn Tự nhiên và Xã hội trong chương trình cải cách giai đoạn I trước đây được cấu trúc gồm 7 chủ đề, nay được rút gọn thành 3 chủ đề lớn. Số chủ đề trong môn Khoa học (chương trình mới) ở giai đoạn II cũng có thể rút gọn từ 12 chủ đề trước đây, nay thành 4 chủ đề được xây dựng theo kiểu đồng tâm. Ngoài ra, tính tích hợp còn được biểu hiện rõ hơn trong chương trình mới do việc kết hợp của môn GD sức khỏe vào hai môn Tự nhiên - Xã hội và môn Khoa học,và sự kết hợp 2 phân môn Địa lí và Lịch sử cũng dựa trên cơ sở tính tích hợp của 2 lĩnh vực kiến thức này. Sự tích hợp 2 phân môn Địa lí và Lịch sử tuy không được thể hiện 7 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ rõ nét trong chương trình và SGK, nhưng phần hướng dẫn thực hiện chương trình đã yêu cầu GV tích hợp hay liên hệ với các kiến thức Địa lí khi dạy Lịch sử và ngược lại.
Như vậy, nếu xét về sự thay đổi số lượng và tên gọi của các môn học thì xem xét về cấu trúc bên trong của các môn học thì sẽ thấy tính tích hợp trong chương trình mới được thể hiện rõ nét hơn nhiều so với chương trình cải cách. Ví dụ trên cho thấy rõ tư tưởng tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình GD phổ thông ở nước ta đã được quán triệt, tính tích hợp ngày càng được đề cao trong dạy- học. Hiện nay, Bộ GD&ĐT có chủ trương lồng ghép một số nội dung GD mới vào các môn học đã có trong chương trình hoặc tích hợp một số nội dung trùng lặp ở các môn nhằm giảm tải về mặt thời lượng học tập của HS. Xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào đổi mới chương trình và SGK THPT.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng bắt đầu triển khai các nghiên cứu để xây dựng một chương trình GD phổ thông mới, sẽ triển khai sau năm 2015. Chương trình này được đổi mới một cách cơ bản theo hướng tích hợp các môn học, tạo cơ hội lựa chọn nội dung học tập nhiều hơn và tăng cường hoạt động xã hội. Như vậy, dạy học tích hợp được xem như một hướng chủ yếu trong đổi mới chương trình, nội dung GD ở nước ta. Xu hướng tích hợp không chỉ nhằm rút gọn thời lượng trình bày tri thức của nhiều môn học, mà quan trọng hơn là tập dượt cho HS cách vận dụng tổng hợp các tri thức vào thực tiễn, vì để giải quyết một vấn đề thực tiễn thường phải huy động tri thức của nhiều môn học - dạy từng môn học riêng sẽ đem lại những tri thức hàn lâm có hệ thống, nhưng khó vận dụng vào thực tiễn.
Hiện nay, vấn đề cần hay không cần tích hợp các môn học khác nhau không đặt ra nữa. Câu trả lời là khẳng định: Cần phải tích hợp các môn học. Những nhu cầu của xã hội đòi hỏi chúng ta phải hướng tới quan điểm liên môn và xuyên môn. Quan điểm liên môn, trong đó chúng ta phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống.
Quan 8 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ điểm xuyên môn, trong đó chúng ta tìm cách phát triển ở HS những kĩ năng xuyên môn, nghĩa là những kĩ năng có thể áp dụng ở rộng rãi mọi nơi. Thực trạng tình hình dạy học tích hợp Sinh học ở trường phổ thông Năm học 2013 – 2014 tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng năng lực dạy học tích hợp của GV Sinh học 10 tại 7 trường THPT ở tỉnh Thái Nguyên với số lượng GV là 25 người. Với phương tiện là bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn kết hợp với tìm hiểu các biên bản dự giờ, trực tiếp dự giờ, trao đổi ý kiến với GV (xem phụ lục 1). Số phiếu phát ra: 25, số phiếu thu lại: 25.
Kết quả khảo sát thể hiện qua bảng 1. Tổng hợp kết quả điều tra nhận thức của GV về dạy học tích hợp trong dạy học Sinh học 10. Mức độ hiểu biết của GV về dạy học Số phiếu Tỷ lệ % tích hợp. Hiểu về dạy học tích hợp 14/25 56% 2.
Mức độ cần thiết - Rất cần thiết 12/25 48% - Cần thiết 10/25 40% - Không cần thiết 3/25 12% 3. Hiểu về mục đích dạy học tích hợp - Vừa đảm bảo cung cấp tri thức khoa học 23/25 92% cơ bản môn học, vừa tích hợp GD các nội dung khác. - Đảm bảo cho HS nắm kiến thức vững 15/25 40% chắc - Tạo được niềm tin, hứng thú cho HS 13/25 52% - Phát huy được tính tích cực, độc lập, 21/25 84% sáng tạo của HS trong quá trình học tập. Kiểu tích hợp GV thường sử dụng - Tích hợp 5/25 20% - Kết hợp 8/25 32% - Liên hệ 20/25 80% 9 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ Căn cứ vào số liệu điều tra trên, ta có thể nhận đinh thực trạng nhận thức của GV về DHTH Sinh học 10 như sau: + Có 14/25 GV chiếm 56% GV hiểu biết về DHTH, còn khoảng 44% GV chưa hiểu về DHTH.
Những GV đã hiểu về DHTH là những GV đã được tham gia lớp tập huấn tích hợp GDMT trong môn Sinh học do Sở GD tổ chức năm 2011. Đa số GV đánh giá khá cao tầm quan trọng của DHTH (88%). DHTH đảm bảo cho HS nắm kiến thức vững chắc 40%, tạo được niềm tin, hứng thú cho HS 52%. + 84% GV cho rằng DHTH phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS.
+ Đa số GV biết về các mức độ tích hợp: tích hợp (20%), kết hợp (32%), liên hệ (80%). Tuy nhiên GV không phân biệt được sự khác nhau của các mức độ đó. Đây là khó khăn chủ yếu của GV đã hạn chế chất lượng DHTH trong bộ môn. Tổng hợp kết quả điều tra năng lực DHTH của GV Sinh học 10 Năng lực của GV về dạy học tích hợp Số phiếu Tỷ lệ % 1.
Những nội dung có thể tích hợp giáo dục trong chương trình Sinh học 10 - Nắm được đầy đủ những nội dung cần tích hợp 10/25 40% - Chưa nắm được đầy đủ những nội dung cần tích hợp 15/25 60% 2. Thực hiện các bước trong quy trình dạy học tích hợp chương trình Sinh học 10 - Đầy đủ các bước 7/25 28% - Chưa đầy đủ các bước 18/25 72% 3. Các căn cứ khi DHTH 10 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ - Mục tiêu của DHTH. 12/25 48% - Nội dung bài dạy.
20/25 80% - Đặc điểm nhận thức của HS về nội dung TH. 11/25 44% - Phương tiễn, tài liệu giảng dạy.