đặt vấn đề tiếp nhận văn học bắt đầu từ tác phẩm tiếp nhận dựa trên cơ sở rằng chúng là các hình thức thể hiện kết quả tiếp nhận; mặt khác, chúng có vai trò như nhau trong việc khuếch tán ý nghĩa của tác phẩm văn học. Bởi vì trong những giai đoạn cổ trung đại, hình thức biểu hiện tiếp nhận chủ yếu không phải là hình thức phê bình. Chẳng hạn như hiện tượng tiếp nhận sử thi Ramayana trong điêu khắc, kiến trúc, hội hoạ và văn học của Đông Nam Á. Đề cập đến vai trò của tác phẩm tiếp nhận dưới dạng những kết quả của quá trình tiếp nhận mới thực sự bắt đầu từ Roman Ingarden.
Trong công trình Tác phẩm văn học (1931), ông cho nó là “sự giáo dục” cho những “sự cụ thể hoá”. Ông cho rằng nó “đóng fd df f566676 fgfgfg h sdf gr fgf gfgf565 do an khoa luan rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 16 vai trò chuyển tiếp giữa những sự cụ thể hoá” [36: 365], Và, theo ông, nó có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành của những sự cụ thể hoá khác về tác phẩm. Tuy nhiên, Roman Ingarden không xem nó như một tồn tại thực sự độc lập, có những đặc thù về hình thức, tính chất, cũng như đời sống của nó. Vodicka cho rằng có những chuẩn mực văn học được định trước nảy sinh bởi những sự cụ thể hoá trong lịch sử.
Những chuẩn mực này, theo ông, có tác động đến bản thân việc lập nghĩa của sự cụ thể hoá [35: 117], Nhưng ông cũng không cho thấy những cách thể hiện khác nhau của những sự cụ thể hoá đó. Hans Robert Jauss trong tiểu luận nổi tiếng Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa văn học [24] phê phán quan niệm về lịch sử văn học, cũng như việc tái hiện lại lịch sử văn học của những công trình văn học sử đầu thế kỷ XX, bởi vì ông ý thức được ảnh hưởng to lớn của sự tiếp nhận đối với quá trình văn học. ông chú ý nhiều hơn việc cái gì chi phối kết quả tiếp nhận. Việc lý giải tác phẩm, theo ông, có ảnh hưởng từ những sự tiếp nhận trước kia về cùng một tác phẩm, tức là ông có chú ý đến vai trò của kết quả tiếp nhận trước đối với tầm đón nhận của người tiếp nhận.
Tóm lại, các nghiên cứu của Ingarden, Vodicka, Jauss cho thấy được tầm quan trọng gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf của kết quả tiếp nhận ở hai phương diện: thể hiện sự phong phú về mặt nội dung của tác phẩm văn học, đồng thời, nó chi phối đến tầm đón nhận của người tiếp nhận khác. Những kết luận này gợi mở cho sự tìm hiểu sâu hơn tính đa dạng, những cách thức hoá thân vô cùng phong phú của các kết quả tiếp nhận trong tác phẩm tiếp nhận cũng như vai trò của nó trong việc chuyển tải, giao lưu, nối kết các lĩnh vực, các bồi cảnh văn hoá nghệ thuật.Konrat, từ góc độ văn học so sánh, đã bàn đến hình thức dịch thuật và vai trò của nó đối với sự phát triển của văn học của các nước. Đề cập đến chúng như là “kẻ môi giới” cho Phật Giao thâm nhập vào Trung Quốc, N.Konrat cũng chú ý đến hình thức dịch ở dạng “phỏng thuật” [44], ông lấy dẫn chứng vai trò của các bản phỏng dịch đối vớiviệc hình thành dòng văn học “biến văn” đời Đường. Đây cũng là gợi ý cho thấy sự quan tâm của ngành văn học so sánh đối với vấn đề tác phẩm tiếp nhận đốì với sự phát triển văn hoá, văn học của dân tộc.
fd df f566676 fgfgfg h sdf gr fgf gfgf565 do an khoa luan rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 17 Có thể thấy rằng việc nghiên cứu tât cả các dạng thức chuyển hoá của tác phẩm văn học qua tác phẩm tiếp nhận, trong mối liên hệ với tác phẩm được tiếp nhận, là một sự khai triển hơn nữa vấn đề tiếp nhận văn học. Nếu như nghiên cứu sự tiếp nhận tác phẩm hiện nay chú ý đến quá trình mở ra các phương diện ý nghĩa của tác phẩm văn học trong lòng người đọc tạo thành lịch sử tiếp nhận của nó, mà chủ yếu là tiếp nhận trong phê bình, thì nghiên cứu tác phẩm tiếp nhận là nghiên cứu tât cả các cách thức và ý nghĩa của việc hiện thực hoá kết quả tiếp nhận cũng như cách tác phẩm hoá thân ưong đời sống văn hoá. Nghiên cứu điều đó còn để thấy được sự sản sinh và hoá thân của văn học vào các lĩnh vực khác của văn hoá nghệ thuật, vai trò thực sự của văn học như một loại hình nghệ thuật trong quá trinh văn hoá nói chung. Để đạt được điều đó, trước hết đòi hỏi phải xác định tác phẩm tiếp nhận với những biểu hiện vô cùng phong phú của nó như một đối tượng nghiên cứu độc lập, xem xét các hlnh thức biểu hiện, đặc trưng bản chất, đặc điểm loại hình của nó.
Sau đó, đặt nó trong mối quan hệ với các yếu tố khác của quá trình văn học, lịch sử văn học, và rộng lớn hơn, trong mối quan hệ với những lĩnh vực nghệ thuật khác mà nó thể hiện, chứ không chỉ dừng gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf lại ở việc mô tả nó như là mô tả sự hiểu tác phẩm. Mặt khác, cần phải xác định một nguyên tắc trong quá trình nghiên cứu tác phẩm tiếp nhận là luôn xét nó trong mối quan hệ với tác phẩm được tiếp nhận để nhận thấy được sự chuyển hoá, cách thức chuyển hoá và ý nghĩa của việc chuyển hoá. fd df f566676 fgfgfg h sdf gr fgf gfgf565 do an khoa luan rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 18 1. Vị trí và vai trò của tác phẩm tiếp nhận: Chấp nhận sự có mặt của tác phẩm tiếp nhận, điều đầu tiên là phải soi sáng nó trong mối quan hệ với người tiếp nhận, kết quả tiếp nhận.
Để chỉ chủ thể của quá trình tiếp nhận, mỹ học tiếp nhận dùng khái niệm «người đọc» (reader-Anh; der leser-Đức). Khái niệm người đọc, theo quan niệm của mỹ học tiếp nhận là khái niệm vừa mang tính tâm lý, vừa mang tính xã hội. Nhưng chính khái niệm người đọc cũng có chỗ mơ hồ. Những lúng túng này bộc lộ trong việc các nhà nghiên cứu phân loại người đọc thực tế theo «năng lực cảm thụ» và «trình độ văn hoá» [55: 347].
«Năng lực cảm thụ» là một khái niệm định tính không đạt yêu cầu về tính chính xác trong nghiên cứu khoa học, nhât là nó không có nhiều ý nghĩa phương pháp luận; còn «trình độ văn hoá», trong rất nhiều trường hợp, không là một tiêu chí cho việc đánh giá kết quả tiếp nhận. Điều đó cho thấy cần có sự phân biệt khái niệm «người đọc» mang tính xã hội và khái niệm «người tiếp nhận» mang tính cụ thể của sự tiếp nhận. Nếu khái niệm «người đọc» giúp hình dung trọn vẹn về một quá trình tác phẩm văn học từ khi hình thành đến khi đi vào đời sống, thì khái niệm «người tiếp nhận» là căn cứ giúp nhà nghiên cứu tìm hiểu bản thân trường hợp tiếp nhận gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf cụ thể. Khái niệm «người tiếp nhận» chỉ thể hiện mình qua sự thể hiện kết quả tiếp nhận, nếu không, không thể hình dung một quá trình tiếp nhận với nội dung và kết quả của nó.
Và vì vậy, trên cơ sở những kết quả tiếp nhận của người tiếp nhận, chúng ta mới có thể có sự hình dung về người đọc, đại diện cho một tầng lớp, một giai đoạn. về kết quả tiếp nhận, Iser cho rằng có một bước tổng hợp ý nghĩa trong giai đoạn cuối quá trình tiếp nhận, ông gọi đó là bước «hoàn hình» (gestalt), «đó là một ý nghĩa được cấu tạo lại» [53; 558]. Giai đoạn cuối của quá trình tiếp nhận, theo Iser, đó là lúc «Người đọc phát hiện ra ý nghĩa của văn bản, để phủ định điểm xuất phát với tư cách vốn có của họ. Thông qua một bộ tiểu thuyết mà chí ít cũng có phần khác với thế giới quen thuộc của mình, họ đã phát hiện được một hiện thực mới mẻ, để từ sự phát hiện đó, người tiếp nhận có thể hình thành nên bản thân mình, từ đó phát hiện thế giới bên trong mà từ trước đến nay chúng ta chưa ý thức đến» [53: 558-559].
Đây là những kết luận rút ra từ sự phân tích tâm lý của quá trình nhận thức tác phẩm nghệ thuật. Thực tế cho thấy, kết quả tiếp nhận là fd df f566676 fgfgfg h sdf gr fgf gfgf565 do an khoa luan rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 19 sự tổng hợp những hiện tượng, trạng thái của tâm lý nhận thức khó có thể xác định cụ thể. Trên thực tế, không có căn cứ kiểm tra kết quả tiếp nhận cuối cùng ngoại trừ chính người tiếp nhận chủ ý hiện thực hoá kết quả tiếp nhận của họ bằng tác phẩm tiếp nhận. Nói cách khác, khái niệm người tiếp nhận, tác phẩm được tiếp nhận, tác phẩm tiếp nhận và kết quả tiếp nhận gắn bó với nhau trong một môi quan hệ phụ thuộc.
Chính qua tác phẩm tiếp nhận, ta mới có thể hình dung một kết quả quá trình tiếp nhận của một kiểu người tiếp nhận. Tác phẩm tiếp nhận chỉ có điều kiện xuất hiện khi người tiếp nhận có chủ ý hiện thực hoá kết quả tiếp nhận.