CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TIẾP CAN THONG TIN VE BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ CỦA NHÀ BÁO 1. Các khái niệm cơ bản 1. Thông tin và tiếp cận thông tin Khải niệm thông tin Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin. Thậm chí ngay các từ điển cũng không có một định nghĩa thống nhất.
Nguyên nhân của sự khác nhau trong việc sử dụng thuật ngữ này chính là do thông tin không thể sờ mó được. Người ta bắt gặp thông tin chỉ trong quá trình hoạt động, thông qua tác động trừu tượng của nó. Ở góc độ ngôn ngữ, trong từ điển Tiếng Việt “thông tin” là “điều được truyền đi cho biết, tin truyền di”. Trong đó, “thông” là thông suốt, là giao tiếp, bảo cho biết; “tin” là tin tức; “cá nhân” là “một người riêng biệt”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật tiếp cận thông tin, thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra. Từ điển Oxford English Dictionary thì cho rằng thông tin là " điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức". Từ Latin “Informatio” , gốc của từ hiện dai “information” (thông tin) có hai nghĩa. Một, nó chỉ một hành động rat cụ thé là tao ra một hình dạng (forme).
Hai, tuỳ theo tình huống, nó có nghĩa là sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo. Trên quan điểm triết học: Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã 17 hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh .hay nói rộng hơn băng tat cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người. Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người.
Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thé nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh. Tiếp cận thông tin Theo khoản 3 Điều 2 Luật Tiếp cận thông tin 2016 (có hiệu lực ngày 01/07/2018), Tiếp cận thông tin là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin. Quyên tiếp cận thông tin của công dân là một quyền hợp pháp được quy định cụ thê tại Hiến pháp 2013. Luật tiếp cận thông tin, cũng quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ tiếp cận thông tin của công dân, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân và các hành vi bị nghiêm cắm.
Tiếp cận thông tin về bảo vệ động vật hoang dã của nhà bao Đề tài này tập trung phân tích tập trung phân tích tiếp cận thông tin về bảo vệ động vật hoang dã của nhà báo dưới góc độ cách thức nhà báo tiếp cận thông tin về bảo vệ động vật hoang dã. Trong tài liệu Tap huấn Báo chí: Khai thác dé tai Buôn bán trái phép đông vật hoang dã, nhà báo Hoàng Thiên Nga có viết: “Khi chấp nhận thực hiện dé tài, phóng viên can tim hiểu thực trạng về động vật hoang dã trong nước và quốc tế, các quy định pháp luật liên quan (thông tư, nghị định, hướng dẫn thực hiện. Đối chiếu với sự kiện đã chứng kiến, mắt thấy tai nghe, từ đó phóng viên biết rõ khía cạnh dung/sai dé lựa chọn cách thể hiện cho thuyết phục — hài hòa tính lý. ” 18 Khi thực hiện đề tài điều đầu tiên nhà báo cần làm đó chính là tìm hiểu thực trạng về động vật hoang đã cả trong và ngoài nước.
Việc tiếp cận thông tin thực trạng động vật hoang dã là điều bắt buộc nếu nhà báo tiếp tục muốn đi sâu, làm rõ và phát hiện ra những góc khuất, những van dé còn tồn tại bên trong. Bên cạnh việc tìm hiểu thông tin thực trạng về động vật hoang dã, nhà báo cần tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan. Điều này giúp hoạt động tác nghiệp của nhà báo diễn ra thuận lợi hơn, đặc biệt nó sẽ là tắm gương giúp nhà báo đối chiếu các sự kiện dé đưa ra các phán đoán chuẩn xác. Tính thuyết phục của tác phẩm đến từ những hiểu biết về quy định pháp luật và lập luận của nhà báo.
Kỹ năng thẩm định thông tin, đào sâu và truy đuôi vấn dé là một trong những kỹ năng rất quan trọng trong thông tin về vấn đề bảo vệ động vật hoang da. Theo nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “Cẩn có nguồn tin tốt, tin trực tiếp càng tốt hoặc tin từ cơ quan chức năng đáng tin cậy thì còn quỷ hơn nữa. Tuy nhiên, khi không thể có các nguồn trên, thì can có khả năng thẩm định, đánh giá độ xác thực và tính khả quan của thông tin. ” Các cách thức thẩm định thông tin bao gồm: - _ Kiểm tra chéo nhiều nguồn khi thấy nghi ngờ.
- Áp dụng luật, quy định, chế tai dé đánh giá. - Su dụng kinh nghiệm đã có của nhà báo, đánh giá từ các vụ việc đã có tiền lệ dé truy xét. - Lam tốt nhất trong chừng mực có thé, với hy vọng có được văn ban hay lời trả lời phỏng vấn, lời xác tín của cơ quan hay cá nhân có liên quan. - C6 thé sử dụng phương pháp loại suy, bóc dần đến chân lý.
Hoặc dựa trên đơn thư, các kiến nghị của đông đảo bà con, lay số đông làm một cơ sở quan trọng. Tốt nhất có thông tin từ chính quyền và các đoàn thê 19 - dù là trưởng thôn, trưởng bản, thay vì chỉ phỏng vấn người dân hay người trong cuộc. - _ Có thé lấy ý kiến luật sư, chuyên gia, nhà nghiên cứu, các cựu cán bộ từng làm việc ở vị trí gần nhất, trực tiếp nhất với chủ đề mình tìm hiểu (nếu người đương chức từ chốt tiếp xúc). - C6 thé hoá trang với tư cách, vai trò khác đề tiếp cận nguồn tin, với hy vọng họ sẽ “bộc lộ bản chất” tốt hơn.
Thách thức mở rộng thông tin và đào sâu vấn đề: Rất ít có tác phẩm báo chí nào gói gọn các chùm thông tin tạo thành một tác phẩm báo chí mang tính phổ quát, mở rộng thành một van đề mà chủ yếu là các tác phẩm báo chí đưa tin xung quanh câu chuyện trong chủ đề nhỏ, phạm vi nhỏ mang tính cá biệt. Bản chất của các dạng tin bài nhỏ lẻ chỉ là một biêu hiện của một van dé, “giọt nước tran ly” một phân nôi cua tang băng trôi. Bên cạnh đó, cũng rất ít tác phâm báo chí xoay quanh một câu chuyện, dao sâu tận cùng, khai thác triệt dé thông tin trong các câu chuyện đó: Ai là người đứng sau đường dây buôn bán động vật hoang dã? Vì sao đường dây này vẫn tồn tại qua nhiều năm? Làm thế nào dé khắc phục hậu quả của nan buôn bán trái phép động vật hoang dã mang lại? Nền báo chí Việt Nam rất cần những tác phẩm báo chí khái quát các sự kiện nhỏ lẻ nâng lên tầm thành một van dé quan trong, tác pham báo chí dao sâu từng góc cạnh của một câu chuyện cụ thé. Bởi những tác phẩm báo chi mở rộng thông tin và tác phâm báo chí dao sâu van dé có tác động rat lớn tới nhận thức, hành vi và thói quen của độc giả.
Các quan điểm của đảng, công ước quốc tế và pháp luật của Việt Nam về tiếp cận thông tin và bảo vệ động vật hoang dã 1. Van bản pháp luật của Việt Nam và Quốc tế về van dé tiếp cận thông tin Right to access to information hay còn được gọi là “quyên tiếp cận thông tin” thường được hiểu là quyền cơ ban của một cá nhân, tô chức được phép tiếp cận các thông tin do cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nắm giữ. Quyên tiếp cận thông tin xuất hiện đầu tiên trên thế giới vào khoảng thé kỷ XVIII tại một số quốc gia trên thé giới như: Thụy Điển (1776), Colombia (1885),.Cùng với một số quyền cơ bản khác của con người, quyền tiếp cận thông tin được quy định trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia và pháp luật quốc tế như: Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (1948); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966); Công ước quốc tế về chống tham nhũng (2003),. Trong Tuyên bố của Dai hội đồng Liên hợp quốc (Nghị quyết 59 ngày 4 tháng 12 năm 1946), quyền tự do thông tin được nhìn nhận như một quyền cơ bản : “Trao thông tin là quyên cơ bản của con người và là nên tảng cho tat cả các quyên tự do được Liên hợp quốc tôn vinh ”.
Tuyên bỗ Nhân quyền thé giới (UDHR ), do Đại Hội đồng Liên hợp quốc ban hành năm 1948 được nhìn nhận như một tuyên bô chu đạo vê nhân quyên quôc tê. Điều 19 của Tuyên bố nay có giá trị như là một tập quán quốc tế, đã đưa ra đảm bảo về quyền tự do thông tin như sau: “ Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến , kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin băng bất kỳ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới. 21 Quyên tiép cận thông tin của một công dân bao gôm các nội dung cơ bản như: Một là, công dân có quyền tiếp cận, thu thập các thông tin do nhà nước, cơ quan nam gitt. Cac ca nhan, tô chức có thé thực hiện tiếp cận, thu thập thông tin qua nhiều hình thức khác nhau như: tiếp cận thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chung , tiếp đặt câu hỏi tại các buổi tiếp xúc cử tri với quan chức nhà nước,.
Hai là, các cá nhân, tô chức có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho co quan nhà nước. Mặt khác, trong một số trường hợp nhất định nếu công dân yêu cầu Nhà nước cung cấp thông tin, cơ quan Nhà nước phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin theo từng yêu cau riêng biệt. Trong một số trường hợp, đối với các thông tin thuộc phạm trù bí mật thông tin quốc gia Nhà nước, doanh nghiệp có quyền từ chối nghĩa vụ cung cấp thông tin hoặc cấm công dân, tô chức truyền bá thông tin.