Mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục; Luận văn gồm 3 chơng: Chong 1. Co so lý luận về công tác xã hội và hoạt động hỗ trợ, điều trị nghiện cho ngời nghiện ma túy có HIV Chơng 2. Các hoạt động hỗ trợ và điều trị nghiện mang tính chất Công tác xã hội cho ngời nghiện ma tuý có HIV Chơng 3: Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò, tầm quan trọng của cơ sở Phật giáo trong hoạt động hỗ trợ và điều trị nghiện cho ngời nghiện ma tuý có HIV 12 CHGJONG 1: CO SO LY LUAN VE CONG TAC XA HOI VA HOAT DONG HO TRO, DIEU TRI NGHIEN CHO NGG]OI NGHIEN MA TUY CO HIV 1. Công tác xã hội Có nhiều khái niệm về CTXH đợc đa ra ở các góc độ khác nhau từ các tác giả trên thế giới.
Định nghĩa về CTXH, Việt Nam đã đợc nhiều tác giả nghiên cứu và phân tích từ những khía cạnh khác nhau. Trong nghiên cứu này tôi sử dụng khái niệm CTXH nh sau: CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng còng chức năng xã hội, đồng thời thúc đây môi trờng xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đỉnh và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [4, tr. Đối tợng tác động của CTXH là: cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, đặc biệt là nhóm ngời yếu thế trong xã hội nh trẻ em, phụ nữ, gia đình nghèo, ngời già, ngời khuyết tật. những ngời trong hoàn cảnh khoá khăn trên khó khăn hoà nhập xã hội và chức năng xã hội bị suy giảm.
Hong trong tam cua CTXH 1a: hong tới giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng phục hồi hay nâng cao năng lực để tăng cờng chắc năng xã hội, tạo những thay đổi về vai trò, vị trí của cá nhân, gia đình, cộng đồng từ đó giúp họ hoà nhập xã hội. Một mặt, CTXH giúp cá nhân tăng cờng năng lực đề hoà nhập xã hội, mặt khác, thúc đấy các điều kiện xã hội để cá nhân, gia đình tiếp cận đợc chính sách, nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản. Vấn đề cá nhân, gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới sự can thiệp của CTXH là: những vấn đề có thê xuất phát từ yếu tố chủ quan cá nhân nh sự hạn chế về thể chất, khiếm khuyết về sức khoẻ, tâm thần, thiếu việc làm, không đợc đào tạo chuyên môn, nghèo đói, quan hệ xã hội suy giảm. Vấn đề của họ cũng có thể nảy sinh từ phía khách quan đó là cộng đồng, môi trờng xung quanh bởi môi trờng đó không cung cấp hay không tạo điều kiện cơ hội để cá 13 nhân gia đình hay cộng đồng đợc tiếp cận nguồn lực nhằm giải quyết van dé nay sinh trong cuộc sống.
Theo tác giả Nguyễn Hồi Loan (2015): “CTXH là một hoạt động thực tiễn xã hội, đợc thực hiện theo những nguyên tắc và phơng pháp nhất định và đợc vận hành trên cơ sở văn hóa truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp cá nhân và các nhóm ngời trong việc giải quyết các nan đề trong đời sống xã hội của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con ngời và tiến bộ xã hội”. Vai trò của Công tác xã hội Nhân viên CTXH hay ngời làm CTXH là những ngời sử dụng kỹ năng chuyên môn, những kiến thức của bản thân đề can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm ngời có còng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ đạt đợc sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con ngời và để nâng cao an sinh xã hội. Sự can thiệp đó là cách thể hiện các vai trò của CTXH. Khi ngời làm CTXH ở những vị trí khác nhau thì vai trò các hoạt động của họ cũng rất khác nhau, tuỳ theo chức năng và nhóm đối tợng mà họ làm việc.
Theo quan điểm của Feyerico (1973) ngời làm CTXH có những vai trò sau đây: - Vai trò ngời vận động nguôn lực: Là ngời trợ giúp đối tợng (cá nhân, gia đình, cộng đồng.) tìm kiếm (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề. Nguồn lực có thể bao gồm về con ngời, về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ thuật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm. - Vai trò là ngời kết nói: Nhân viên CTXH là ngời có đợc những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho đối tợng các chính sách, địch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan tổ chức đề họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật để có thêm sức mạnh giải quyết vấn đề. - Vai trò ngời biện hộ: Là ngời bảo vệ quyền lợi cho đối tong dé ho doc hỏng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ, đặc biệt trong những trờng hợp họ bị từ chối dịch vụ, chính sách lẽ ra họ đợc hởng.
Ví dụ nh 14 NNMT bị nhiễm HIV/AIDS đã cai nghiện thành công bị kỳ thị và không đợc nhận vào làm trong một doanh nghiệp nh những ngời khác. Trong trờng hợp này, ngời làm CTXH cần biện hộ, đấu tranh để quyền đợc làm việc, đợc lao động của thân chủ đợc thực hiện. -_ Vai trò ngời vận động/hoạt động xã hội: Là nhà vận động xã hội tô chức các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho đối tong, cổ vũ tuyên truyền. Ví dụ: sự vận động xã hội giảm kỳ thị, phân biệt đối xử đối với NNMT đã cai nghiện thành công để họ có cơ hội tái hoà nhập cộng động, phòng chống tái nghiện.
- Vai trò là ngời giáo dục: Là cung cấp kiến thức, kỹ năng liên quan đến vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình và cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề, đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết. Ngời làm CTXH có thê tổ chức các buôi tập huấn nâng cao nhận thức về tác hại của ma tuý, kiến thức phòng, chống nghiện và tái nghiện ma tuý. - Vai trò ngời tạo sự thay đổi: Ngời làm CTXH đợc xem nh ngời tạo ra sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hớng tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn. Nhân viên CTXH tham gia vào hoạt động tuyên truyền tạo nên sự thay đôi về nhận thức, ứng xử của cộng đồng đối với những ngời nghiện sau cai hoàn lơng đang tái hoà nhập cộng đồng.
- Vai trò là ngời t vấn: Ngời làm CTXH tham gia nh ngời cung cấp thông tin t van cho các đối tợng cần có những thông tin nh thông tin về tác hại của ma tuý, chính sách pháp luật liên quan, thông tin về dinh đỡng cho trẻ nhỏ hay ngời già. Bên cạnh đó còn t vấn, cung cấp thông tin cho cá nhân, gia đình, cộng đồng, làm việc với những nhà chuyên môn khác đề giúp họ có đợc những dịch vụ tốt hơn. - Vai trò là ngời tham vấn: Ngời làm CTXH trợ giúp gia đình và cá nhân tự xem xét vấn đề và tự thay đôi. Ví dụ: tham gia tham vấn giúp NMMT tái hoà nhập cộng đồng phòng, chống tái nghiện.
Chức năng của Công tác xã hội - Chức năng phòng ngừa: Chức năng đầu tiên của CTXH là phòng ngừa, ngăn chặn cá nhân, gia đình và cộng đồng rơi vào tình huống khó khăn chứ không phải đề đối tợng rơi vào hoàn cảnh khó khăn rồi mới giúp đỡ. Chức năng phòng ngừa của CTXH thé thiện qua các hoạt động giáo dục, phổ biến tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cá nhân, gia đình và cộng đồng về luật pháp, chính sách xã hội và những vấn đề xã hội, nh hoạt động giáo dục cộng đồng về kiến thức Luật phòng, chống bạo lực gia đình hay tuyên truyền phòng chống tỆ nạn xã hội. Thông qua các hoạt động giáo dục nh vậy, CTXH đã giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội có thể xảy ra với cá nhân, gia đình và cộng đồng. Bên cạnh đó chức năng phòng ngừa còn thể hiện thông qua các hoạt động xây dựng văn bản, chính sách xã hội góp phần cải thiện và nâng cao đời sống, ngăn chặn gia tăng đối tợng rơi vào hoàn cảnh khó khăn.
- Chức năng can thiệp (còn đợc gọi là chức năng chữa trị hay trị liệu): nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết vấn đề khó khăn họ đang phải đối mặt. Với từng vấn đề và với mỗi đối tợng khác nhau, nhân viên công tác xã hội sẽ có phơng pháp can thiệp hỗ trợ riêng biệt. Ví dụ: với những đối tợng có khó khăn về tâm lý, nhân viên CTXH sẽ cung cấp dịch vụ tham vấn dé déi tong vot qua khó khăn về tâm lý. Với những vấn đề cần phức tạp, cần nhiều nguồn lực, nhân viên CTXH cần tìm kiếm, điều phối và kết nối các dịch vụ, nguồn lực đến với đối tong.
Quy trình can thiệp của nhân viên CTXH thờng bắt đầu từ việc tiếp cận, đánh giá nhu cầu, xác định vấn đề, khai thác tiềm năng của đối tong cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, hỗ trợ đối tợng thực hiện kế hoạch và cuối còng là đánh giá và kết thúc quá trình giúp đỡ. Phơng pháp chủ đạo của CTXH là giúp cho đối tợng đợc tăng năng lực và tự giải quyết vấn đề của họ. - Chức năng phục hồi: đợc thể hiện ở việc giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng khôi phục lại chức năng tâm lý, xã hội đã bị suy giảm lấy lại trạng thái cân bằng trong cuộc sống. Thông qua các hoạt động phục hồi, nhân viên CTXH giúp cho đối tợng trở lại cuộc sống bình thờng, hoà nhập cộng đồng.
16 Ví dụ nh giúp ngời khuyết tật hòa nhập với cộng đồng hay giúp trẻ lang thang trở về đoàn tụ với gia đình; giúp ngời nghiện, ngời hành nghề mại dâm trở lại cuộc sống bình thờng, tái hoà nhập cộng đồng v. - Chức năng phát triển: Đợc thực hiện thông qua các hoạt động xây dựng luật pháp, các chính sách, chơng trình dịch vụ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng phát triển khả năng của mình đóng góp cho sự phát triển của xã hội.