Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Huế thực hiện tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế (năm 2014), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Tận và TS Trịnh Thị Định, thuộc chuyên ngành Lịch sử thế giới (Mã số: 62.22.03.11).
Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy các quốc gia tăng cường liên kết nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực tự nhiên, con người và vốn. Năm 1992, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đề xuất sáng kiến Hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) bao gồm 5 quốc gia (Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam) cùng hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc, trải rộng trên 10 lĩnh vực hợp tác. Đến tháng 10/1998, tại Hội nghị lần thứ 8 các Bộ trưởng GMS tổ chức tại Manila (Philippines), Hành lang kinh tế Đông Tây (EWEC) được thống nhất ưu tiên thực hiện đầu tiên trong số 5 hành lang được đưa ra thảo luận.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: mặc dù EWEC nhận được sự quan tâm của nhiều cơ quan quốc tế (như ADB, JICA), chính phủ các nước thành viên và các chuyên gia kinh tế thông qua nhiều báo cáo đánh giá dự án hoặc bài tham luận hội thảo, nhưng các công trình nghiên cứu chuyên khảo dưới góc độ Sử học về tiến trình này còn rất ít. Phần lớn các công trình trước đây chỉ phân tích từng lát cắt thời gian ngắn, một địa phương đơn lẻ hoặc một quốc gia thành viên mà chưa tái hiện tiến trình hợp tác kinh tế một cách toàn diện, có hệ thống trong suốt giai đoạn 1998 - 2010.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phản ánh tiến trình hợp tác kinh tế giữa 4 nước thuộc EWEC từ cơ sở hình thành, thực trạng triển khai đến tác động của tiến trình này đối với các chủ thể và dự báo triển vọng phát triển. Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Trình bày khái quát về những cơ sở của hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây.
- Phân tích khái niệm Hành lang kinh tế Đông Tây, sự tham gia của các nước thuộc hành lang và sự tiến triển hợp tác kinh tế giữa bốn nước Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam trong EWEC.
- Trình bày có hệ thống tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây từ năm 1998 đến năm 2010.
- Phân tích, đánh giá tiến trình hợp tác kinh tế và tác động của nó tới các nước thành viên EWEC cũng như các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu, từ đó đề xuất những giải pháp thúc đẩy quá trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc EWEC.
- Dự báo triển vọng của quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây từ năm 1998 đến năm 2010.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:
- Về thời gian: Giai đoạn trọng tâm từ năm 1998 (thời điểm EWEC chính thức được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng GMS lần thứ 8) đến năm 2010 (kết thúc thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI). Các giai đoạn trước 1998 và sau 2010 được đề cập ở mức độ làm nền tảng và liên hệ logic.
- Về không gian: Tập trung vào không gian địa lý của 13 tỉnh/thành phố thuộc 4 quốc gia thành viên nằm trên tuyến hành lang dài 1.450 km, bao gồm: Mawlamyine, Kayin (Myanmar); Tak, Sukhothai, Kalasin, Phitsanulok, Khon Kaen, Yasothon, Mukdahan (Thái Lan); Savannakhet (Lào); Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng (Việt Nam).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan thành các nhóm tài liệu chính ở cả trong và ngoài nước:
Nhóm nghiên cứu ở nước ngoài:
- Các báo cáo chiến lược của ADB: "East-West Economic Corridor (EWEC) Strategy and Action Plan, Development Study of the East-West Economic Corridor Greater Mekong Subregion" (2009) nghiên cứu cơ sở, tầm nhìn và thành tựu hợp tác giai đoạn 2001 - 2008 trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư, tư nhân, giảm nghèo và môi trường; "Strategy and Action Plan for the Greater Mekong Subregion East - West Economic Corridor" (2010) đánh giá giá trị kinh tế - xã hội khi hành lang hoàn thành qua hai giai đoạn 1998 - 2001 và 2001 - 2008.
- Các công trình chuyên đề của học giả quốc tế: Công trình của Yaowalak Apichatvullop và Panadda Phucharoensilp (Đại học Khon Kaen, 2007) về kỳ vọng và nhận thức của các tổ chức, doanh nghiệp, người dân Thái Lan đối với EWEC; nghiên cứu của Lee Sheridan (2009) về chiến lược phát triển du lịch tại Savannakhet (Lào); nghiên cứu của Masami Ishida (2009) so sánh hành lang kinh tế và các khu kinh tế đặc biệt ở 4 nước Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam; nghiên cứu của Toshinori Nemoto (Đại học Hitotsubashi, Nhật Bản, 2009) về khung kế hoạch hạ tầng vận tải hàng hóa quốc tế và logistics trên tuyến EWEC.
Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam:
- Nhóm công trình về ASEAN và quan hệ song phương: Các ấn phẩm của Nguyễn Quốc Lộc, Nguyễn Công Khanh, Đoàn Thanh Hương (2004); Hoài Nguyên (2008); Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Tuyên huấn Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (2012); Võ Thanh Thu (2008); Nguyễn Duy Dũng (chủ biên, 2010); Hoàng Thị Minh Hoa (chủ biên, 2010); Nguyễn Thị Thúy Hồng (2008).
- Nhóm công trình về Hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng: Các công trình của Nguyễn Trần Quế (2001, 2007); Nguyễn Hồng Nhung (2007, 2011); Nguyễn Xuân Thắng (2005); Trần Cao Thành (2006); Phạm Thái Quốc (2006).
- Nhóm công trình và bài báo chuyên sâu về EWEC: Nghiên cứu lý luận và chính sách của Nguyễn Xuân Thắng (2006); vai trò địa phương của Lê Hữu Phúc (2008 về Quảng Trị), Trần Văn Minh (2008 về Đà Nẵng); quan điểm đối sách của Nguyễn Hoàng Giáp và Mai Hoàng Anh (2008); tác động đến Lào và quan hệ Việt - Lào của Trương Duy Hoà (2008).
- Nhóm kỷ yếu hội thảo khoa học: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế "Du lịch Quảng Trị - hội nhập và phát triển" (Tổng cục Du lịch và UBND tỉnh Quảng Trị, 2007); Kỷ yếu Hội thảo "Nhu cầu khách du lịch trên tuyến hành lang Đông Tây - Cơ hội cho các địa phương" (Khoa Du lịch - Đại học Huế và Tổ chức SNV Hà Lan, 2008); Kỷ yếu Hội thảo "Hợp tác phát triển du lịch giữa các tỉnh Bắc miền Trung Việt Nam với Lào và Thái Lan" (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình phối hợp tổ chức, 2010).
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: trước năm 2010, chưa có công trình khoa học nào tại Việt Nam nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện và có hệ thống tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc EWEC dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử thế giới. Luận án kế thừa các tư liệu đi trước để tái hiện bức tranh lịch sử xuyên suốt từ năm 1998 đến năm 2010, phân tích bản chất quan hệ quốc tế và cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết kinh tế quốc tế và quan hệ quốc tế:
- Hợp tác và hội nhập kinh tế khu vực: Phân định 5 cấp độ hội nhập kinh tế gồm Khu vực thương mại ưu đãi, Khu vực thương mại tự do, Liên minh thuế quan, Thị trường chung và Liên minh kinh tế. Đồng thời làm rõ vai trò của hội nhập tiểu vùng như một khâu bổ trợ cho hội nhập khu vực và toàn cầu.
- Lý thuyết về lợi thế so sánh: Khẳng định các nước EWEC tuy nghèo nhưng sở hữu các lợi thế so sánh về nhân công rẻ, tài nguyên phong phú, chi phí sản xuất thấp, văn hóa đa dạng, đa dạng sinh thái. Hợp tác EWEC giúp các nước khai thác lợi thế này thông qua phân công lao động và mở rộng thị trường.
- Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của quốc gia (Michael E. Porter): Nhấn mạnh vai trò của chính sách chính phủ cấp trung ương và địa phương trong việc định hình các điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và vùng lãnh thổ.
- Thuyết tự do thương mại và Thuyết bảo hộ mậu dịch: Luận giải sự cần thiết của việc vừa dỡ bỏ các rào cản thuế quan, phi thuế quan để thúc đẩy lưu chuyển hàng hóa, vừa xây dựng chính sách bảo hộ hợp lý lợi ích kinh tế của các quốc gia đang phát triển trước sức ép cạnh tranh.
- Khái niệm "Hành lang kinh tế": Tiếp cận mô hình hành lang kinh tế như một cơ chế hợp tác phi chính thức với ba điểm khác biệt cơ bản: (1) là một khu vực địa lý xác định kết nối qua trục giao thông; (2) nhấn mạnh sáng kiến song phương kết hợp đa phương; (3) đòi hỏi quy hoạch không gian và hạ tầng vật lý cụ thể.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm chủ đạo, kết hợp liên ngành với các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh và dự báo khoa học.
Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án:
- Hệ thống văn kiện gốc của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam; các văn kiện chính thức của chính phủ các nước ASEAN; các hiệp ước, hiệp định song phương và đa phương (như Hiệp định khung GMS-CBTA, Hiệp định thương mại Việt - Lào).
- Số liệu thống kê từ các cơ quan chính phủ, địa phương trên tuyến hành lang, số liệu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA).
- Tuyên bố chung của các hội nghị thượng đỉnh, hội nghị bộ trưởng GMS và ASEAN; các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành Lịch sử, Kinh tế, Đông Nam Á và kỷ yếu hội thảo quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở của hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây
Chương 1 tập trung phân tích các nền tảng lý luận, bối cảnh lịch sử và vai trò của các đối tác khởi xướng EWEC:
Bối cảnh quốc tế và khu vực: Trật tự thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc; cục diện "nhất siêu đa cường" xuất hiện cùng làn sóng toàn cầu hóa. Tại Đông Nam Á, ASEAN mở rộng kết nạp Việt Nam (1995), Lào và Myanmar (1997), tạo điều kiện để cả 4 nước EWEC cùng thuộc một mái nhà chung ASEAN. Năm 1992, sáng kiến GMS ra đời. Đến năm 1998, EWEC được lựa chọn là dự án ưu tiên hàng đầu.
Khái quát quan hệ trước năm 1998: 4 quốc gia có sự gần gũi về địa lý và lịch sử văn hóa lâu đời. Quan hệ kinh tế song phương hình thành từ sớm, đặc biệt là quan hệ Việt Nam - Lào từ sau năm 1975 (Hiệp ước hữu nghị và hợp tác 1977, Hiệp định thương mại 1961, Hiệp định hợp tác kinh tế 1992 - 1995). Tuy nhiên, trước 1998, mức độ hợp tác nhìn chung vẫn còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng.
Sáng kiến của ADB và Nhật Bản:
- ADB đóng vai trò khởi xướng, điều phối và tài trợ tài chính. Năm 1999, ADB cấp khoản vay ưu đãi đầu tiên trị giá 57 triệu USD nhằm nâng cấp đường giao thông tại Việt Nam và Lào.
- Nhật Bản đóng vai trò chủ đạo thông qua sáng kiến Diễn đàn phát triển toàn diện Đông Dương (1993/1995) và Nhóm đặc nhiệm chiến lược phát triển lưu vực sông Mekong (1996). Nhật Bản hướng tới 3 mục tiêu: đảm bảo ổn định châu Á, tăng cường hội nhập khu vực, thúc đẩy thương mại - đầu tư; đồng thời thiết lập tuyến vận tải đường bộ nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương nhằm giảm phụ thuộc vào eo biển Malacca và cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc. ADB và các cơ quan Nhật Bản (JBIC, JICA) đã tài trợ các công trình then chốt như Hầm đường bộ qua đèo Hải Vân và Cầu Hữu nghị 2 (Mukdahan - Savannakhet).
| Thông tin cơ bản về tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây (EWEC) |
Chi tiết theo luận án |
| Chiều dài tuyến hành lang |
1.450 km |
| Số quốc gia đi qua |
4 quốc gia (Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam) |
| Điểm khởi đầu phía Tây |
Thành phố cảng Mawlamyine (bang Mon, Myanmar) |
| Điểm kết thúc phía Đông |
Thành phố Đà Nẵng (Việt Nam) |
| Số tỉnh, thành phố trực thuộc tuyến |
13 địa phương (Mawlamyine, Kayin, Tak, Sukhothai, Kalasin, Phitsanulok, Khon Kaen, Yasothon, Mukdahan, Savannakhet, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng) |
| 6 đô thị thương mại trung tâm |
Mawlamyine, Phitsanulok, Khon Kaen, Savannakhet, Huế, Đà Nẵng |
| Khoản vay ưu đãi đầu tiên của ADB (1999) |
57 triệu USD (tài trợ hạ tầng giao thông Việt Nam - Lào) |
Đặc điểm, ưu thế và thách thức của EWEC: Tuyến hành lang giao cắt với các trục giao thông huyết mạch Bắc - Nam (Quốc lộ 1A ở Việt Nam, Đường 13 ở Lào, tuyến Chiang Mai - Bangkok ở Thái Lan, Yangon - Dawei ở Myanmar). Tuy nhiên, EWEC mang bản chất là sự hợp tác giữa các "đối tác yếu - yếu"; 13 địa phương đa phần có kinh tế nông nghiệp là chủ đạo (chiếm 20 - 50% GDP, 60 - 80% lao động), dịch vụ kém phát triển, địa hình đồi núi phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn an ninh - sắc tộc tại khu vực biên giới.
Chương 2: Sự tiến triển của các lĩnh vực hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)
Chương 2 trình bày có hệ thống tiến trình hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể trong giai đoạn 1998 - 2010:
- Cơ chế hoạt động và nguyên tắc hợp tác: Hoạt động dựa trên các hội nghị cấp cao GMS, Hội nghị Bộ trưởng, Hội nghị Quan chức cấp cao (SOM EWEC) và Diễn đàn Doanh nghiệp GMS (GMS BF). Sự kiện Tuần lễ EWEC 2007 tại Đà Nẵng với chủ đề "Hành lang hữu nghị và hợp tác kinh tế: Từ ý tưởng đến hiện thực" là dấu mốc nâng cao nhận thức của các đối tác.
- Hợp tác đầu tư cơ sở hạ tầng và khu kinh tế: Triển khai xây dựng hạ tầng cứng giao thông liên vùng; phát triển các khu kinh tế cửa khẩu và khu kinh tế đặc biệt dọc tuyến, tiêu biểu như Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo (Quảng Trị) và Khu kinh tế Savan-Seno (Savannakhet).
- Hợp tác thương mại và dịch vụ: Thúc đẩy lưu chuyển hàng hóa qua biên giới, cắt giảm các rào cản phi thuế quan.
- Hợp tác giao thông vận tải và du lịch: Ký kết và triển khai từng bước Hiệp định vận tải qua biên giới (GMS-CBTA). Ngành du lịch khai thác các chuỗi di sản thế giới liên hoàn gồm Quần thể di tích Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn (Việt Nam) và Di sản Sukhothai (Thái Lan), mở ra các tuyến du lịch xuyên quốc gia "Một ngày ăn cơm ba nước".
- Hợp tác các lĩnh vực khác: Hợp tác phát triển năng lượng (kết nối lưới điện khu vực), nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản và các chương trình phối hợp xóa đói giảm nghèo vùng nông thôn biên giới.
Chương 3: Một số nhận xét về tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)
Chương 3 tổng kết, đánh giá tác động và đề xuất giải pháp chính sách:
- Đánh giá tác động: EWEC tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho từng nước thành viên: mở lối ra biển cho Đông Bắc Thái Lan và Trung - Hạ Lào; giúp miền Trung Việt Nam thu hút đầu tư và mở rộng giao lưu thương mại; tạo tiềm năng kết nối cho vùng hạ Myanmar. Về tổng thể, EWEC thúc đẩy tiến trình hội nhập GMS và đóng góp vào mục tiêu xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).
- Hạn chế và nguyên nhân: Hạ tầng kết nối chưa đồng bộ (đường sắt, hàng không, đường thủy còn rất hạn chế); việc triển khai phần mềm thể chế (như cơ chế một cửa một điểm dừng theo CBTA) tại các cặp cửa khẩu còn chậm trễ; sự liên kết giữa các địa phương còn mang tính phân mảnh do các tỉnh có xu hướng hướng tới các thị trường phát triển bên ngoài hành lang hơn là bổ sung nội khối; năng lực vốn và công nghệ của các nước nội tại còn thấp.
- Đóng góp của Việt Nam và giải pháp chính sách: Việt Nam đóng vai trò tích cực ở cửa ngõ phía Đông thông qua việc nâng cấp cảng biển Đà Nẵng, Quốc lộ 9, KKTTMĐB Lao Bảo. Luận án đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện hạ tầng, đẩy mạnh cải cách thủ tục hải quan, tăng cường liên kết công - tư và hoàn thiện khung chính sách để Việt Nam khai thác tối đa lợi thế cửa ngõ EWEC.
Kết quả và những đóng góp mới
Về phương diện khoa học:
- Luận án là công trình nghiên cứu lịch sử đầu tiên tại Việt Nam tái hiện một cách toàn diện, có hệ thống tiến trình hợp tác kinh tế giữa 4 nước Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam trong khuôn khổ EWEC giai đoạn 1998 - 2010.
- Tác giả phân tích, luận giải các vấn đề theo từng lĩnh vực chuyên biệt (hạ tầng, đầu tư, thương mại, giao thông, du lịch, giảm nghèo), đưa ra các nhận xét, đánh giá khách quan và độc lập về bản chất của mô hình hợp tác tiểu vùng.
- Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử - kinh tế hoàn chỉnh, có giá trị học thuật cao về quá trình hình thành và phát triển của EWEC từ năm 1998 đến năm 2010.
Về phương diện thực tiễn:
- Luận án cung cấp luận cứ khoa học giúp hiểu rõ những tác động đa chiều của EWEC đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia thành viên và các cơ chế hợp tác ASEAN, GMS.
- Góp phần nâng cao nhận thức về liên kết kinh tế tiểu vùng cho nhân dân 4 nước, thúc đẩy tinh thần hữu nghị và hợp tác cùng phát triển.
- Đưa ra các gợi mở chính sách thiết thực phục vụ các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương (nhất là Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng) trong việc hoạch định chính sách thu hút đầu tư, khai thác hạ tầng và nâng cao hiệu quả tham gia EWEC.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
- Luận án bị giới hạn trong khung thời gian 1998 - 2010 và phạm vi không gian 13 địa phương trực tiếp trên tuyến hành lang. Các dữ liệu về phía Myanmar trong giai đoạn này còn hạn chế do mức độ mở cửa và tiến độ triển khai hạ tầng ở đoạn Mawlamyine - Myawaddy chậm hơn so với các đoạn tuyến còn lại.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu giai đoạn sau năm 2010, đặc biệt khi GMS điều chỉnh Chiến lược giao thông Tiểu vùng thành 9 hành lang kinh tế và mở thêm các cửa ngõ ra biển mới tại Việt Nam (Thanh Hóa, Quy Nhơn).
- Đánh giá thực trạng thực thi toàn diện Hiệp định GMS-CBTA tại tất cả các cặp cửa khẩu quốc tế và tác động của việc thành lập Cộng đồng ASEAN (AEC) sau năm 2015 đối với sự phát triển của EWEC.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Lịch sử thế giới, Quan hệ quốc tế, Kinh tế quốc tế, Đông Nam Á học có thể sử dụng làm chuyên đề giảng dạy hoặc tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử liên kết tiểu vùng.
- Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan đối ngoại: Cán bộ tại Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Ban Quản lý các Khu kinh tế cửa khẩu tham khảo các phân tích về cơ chế hợp tác song phương và đa phương.
- Lãnh đạo và cơ quan quản lý địa phương: Chính quyền các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng có thể tham khảo các đánh giá về hạ tầng, logistics, du lịch và liên kết vùng để tối ưu hóa chiến lược phát triển kinh tế địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây (EWEC) có chiều dài bao nhiêu và đi qua những địa phương nào?
EWEC có chiều dài toàn tuyến 1.450 km, đi qua 13 tỉnh/thành phố của 4 quốc gia: Mawlamyine, Kayin (Myanmar); Tak, Sukhothai, Kalasin, Phitsanulok, Khon Kaen, Yasothon, Mukdahan (Thái Lan); Savannakhet (Lào); Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng (Việt Nam).
2. Hai đối tác quốc tế đóng vai trò khởi xướng và tài trợ then chốt cho EWEC trong giai đoạn đầu là những tổ chức nào?
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Chính phủ Nhật Bản (thông qua JICA, JBIC). ADB đã cấp khoản vay ưu đãi 57 triệu USD vào năm 1999 để nâng cấp đường giao thông tại Việt Nam và Lào; Nhật Bản tài trợ xây dựng các công trình hạ tầng lớn như Hầm đường bộ qua đèo Hải Vân và Cầu Hữu nghị 2.
3. Theo cơ sở lý thuyết của luận án, hội nhập kinh tế khu vực gồm những cấp độ nào?
Hội nhập kinh tế khu vực gồm 5 cấp độ: Khu vực thương mại ưu đãi, Khu vực thương mại tự do, Liên minh thuế quan, Thị trường chung và Liên minh kinh tế.
4. Vì sao luận án nhận định hợp tác trên EWEC thực chất là sự hợp tác giữa các "đối tác yếu - yếu"?
Vì đa số các địa phương nằm dọc hành lang đều nghèo, kinh tế dựa chủ yếu vào nông nghiệp (chiếm 20 - 50% GDP, 60 - 80% dân số là nông dân), công nghiệp nhỏ bé, dịch vụ chưa phát triển, xa cách các trung tâm kinh tế lớn. Hai trung tâm phát triển nhất là Khon Kaen và Đà Nẵng vẫn ở mức phát triển thấp hơn nhiều so với các vùng kinh tế trọng điểm quốc gia.
5. Điểm nhấn lớn trong hợp tác du lịch giữa các nước dọc tuyến EWEC được luận án nêu ra là gì?
EWEC kết nối chuỗi các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử nổi tiếng gồm Quần thể Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn (Việt Nam) và Di sản Sukhothai (Thái Lan), tạo điều kiện phát triển các tour du lịch xuyên quốc gia kết hợp văn hóa, lịch sử và sinh thái.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Hoàng Huế đã tái hiện một cách hệ thống, toàn diện tiến trình hợp tác kinh tế giữa 4 nước Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam trong khuôn khổ Hành lang kinh tế Đông Tây giai đoạn 1998 - 2010. Dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử thế giới, công trình đã làm sáng tỏ các cơ sở lý luận, vai trò của các đối tác quốc tế (ADB, Nhật Bản), thực trạng triển khai hạ tầng và các lĩnh vực hợp tác chuyên ngành. Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị, đồng thời đưa ra những đánh giá khách quan về thành tựu, hạn chế và gợi mở chính sách cho sự tham gia của Việt Nam trong các liên kết tiểu vùng.