Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề phát triển nông nghiệp UDCNC. Tiềm năng và thực trạng phát triển nông nghiệp UDCNC tại TP. Định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp UDCNC tại TP.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 1. Một số khái niệm về vấn đề phát triển nông nghiệp UDCNC Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành kinh tế cơ bản và quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội; sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi; khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực - thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp” (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995, p. Theo nghĩa hẹp thì nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.
Theo nghĩa rộng, khái niệm này bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Công nghệ cao Công nghệ là các phương tiện kĩ thuật, bao gồm các yếu tố như phương tiện máy móc thiết bị, các quy trình vận hành, các phương pháp tổ chức, quản lí đảm bảo cho quá trình sản xuất và dịch vụ của xã hội (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995). Công nghệ cao (high-tech) là những công nghệ hay kĩ thuật hiện đại, tiên tiến được áp dụng vào quy trình sản xuất nhằm tạo ra các sản phẩm có năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Theo Luật Công nghệ cao: “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường” (Quốc Hội, 2008).
Hiện nay, có 4 lĩnh vực công nghệ được nước ta tập trung đầu tư phát triển bao gồm CNTT, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và công nghệ tự động hóa. Trong đó, công nghệ sinh học đóng vai trò trụ cột trong việc thúc đẩy năng 11 suất nông nghiệp tăng nhanh đồng thời vẫn góp phần bảo vệ môi trường cho các thế hệ tương lai. Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Nông nghiệp UDCNC là việc sử dụng công nghệ trong nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản với mục tiêu nâng cao năng suất, hiệu quả và lợi nhuận. Khái niệm nông nghiệp UDCNC được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam trong những năm gần đây.
Theo Vụ Khoa học và Công nghệ: Đó là “nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, CNTT, công nghệ vật liệu mới, CNSH và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ”. Theo khái niệm này, nông nghiệp UDCNC là sự tích hợp của các công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp bao gồm cơ giới hóa, tự động hóa, CNTT, công nghệ vật liệu mới, CNSH (hình 1. Mục tiêu của nông nghiệp UDCNC là đạt được hiệu quả cao về kinh tế, phát triển bền vững bằng phương pháp canh tác hữu cơ. Công nghệ ứng dụng trong ngành nông nghiệp Khái niệm trên đề cập đến “canh tác hữu cơ” - là phương thức canh tác trên nền tảng canh tác tự nhiên, có kiểm soát, tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật, 12 nhất là công nghệ sinh học nhằm duy trì sức khỏe cho đất, hệ sinh thái và sức khỏe con người.
Nền nông nghiệp hữu cơ đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển. Tại Việt Nam, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng nông sản và môi trường đang được đặc biệt quan tâm thì phương thức canh tác hữu cơ cũng chính là đích đến cho nền nông nghiệp nước ta trong tương lai. Theo Phạm S: “Nông nghiệp UDCNC là nông nghiệp ứng dụng tổng hợp các loại công nghệ mới phù hợp trong điều kiện không gian, thời gian cụ thể với tiềm lực cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến để đạt năng suất tối ưu, chất lượng tốt nhất, đảm bảo an toàn thực phẩm, giá thành hạ; tăng tính cạnh tranh, có hiệu quả kinh tế cao, trên cơ sở đảm bảo môi trường sinh thái bền vững”. Theo cách định nghĩa này, nông nghiệp UDCNC chính là - Việc ứng dụng tổng hợp các công nghệ mới: công nghệ mới được ứng dụng không chỉ có một mà là sự tổng hợp của nhiều công nghệ khác nhau.
- Không có công nghệ mới nào phù hợp cho tất cả các loại cây trồng, vật nuôi ở mọi địa phương. Do đó, tùy loại cây trồng, vật nuôi khác nhau ở các địa phương khác nhau mà lựa chọn công nghệ ứng dụng cũng khác nhau. - Khoa học công nghệ cũng phát triển theo từng giai đoạn. Việc ứng dụng các công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp cũng tùy thuộc vào trình độ phát triển khoa học công nghệ theo các giai đoạn đó.
- Mục tiêu của sản xuất nông nghiệp công nghệ cao là nông sản đạt năng suất tối ưu, chất lượng tốt nhất, đảm bảo an toàn thực phẩm, giá thành hạ; tăng tính cạnh tranh, có hiệu quả kinh tế cao. - Nông nghiệp công nghệ cao phải đảm bảo môi trường sinh thái bền vững. Tóm lại, nông nghiệp UDCNC phải biểu hiện được các nội dung: 13 Về kĩ thuật: Ứng dụng các công nghệ tiên tiến, có hàm lượng chất xám cao (có thể được tạo ra trong nước hoặc nhập từ nước ngoài) để tạo ra sản phẩm nông nghiệp có năng suất, chất lượng vượt trội. Về kinh tế: đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và có sức cạnh tranh trên thị trường.
Về môi trường: đảm bảo an toàn về môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Sản phẩm nông nghiệp UDCNC Sản phẩm công nghệ cao là sản phẩm do công nghệ cao tạo ra, có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường (Quốc Hội, 2008). Sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao là sản phẩm do công nghệ tạo ra theo một chu trình khép kín, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn so với sản xuất bình thường trên một đơn vị diện tích canh tác, có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường và có khả năng mở rộng quy mô sản xuất và sản lượng khi nhu cầu của thị trường gia tăng. Nhân lực công nghệ cao Nhân lực công nghệ cao là đội ngũ những người có trình độ và kỹ năng đáp ứng được yêu cầu của hoạt động nghiên cứu, phát triển, UDCNC, dịch vụ công nghệ cao, quản lý hoạt động công nghệ cao, vận hành các thiết bị, dây chuyền sản xuất sản phẩm công nghệ cao (Quốc Hội, 2008).
Nhân lực nông nghiệp UDCNC là lao động có trình độ chuyên sâu với kiến thức, kỹ năng nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao; nghiệp vụ, kỹ năng quản lý; năng lực tiếp nhận, làm chủ công nghệ để ứng dụng và phát triển vào thực tế sản xuất đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành nông nghiệp UDCNC. Vai trò và đặc điểm của nông nghiệp UDCNC Vai trò Tạo ra khối lượng nông sản rất lớn, năng suất cao, chất lượng và thân thiện với môi trường. Nhiều quốc gia đã lấy khoa học và công nghệ làm chìa khóa để phát triển một ngành nông nghiệp hiện đại, năng suất, chất lượng cao, hiệu quả kinh tế lớn. Công ty sản xuất cà chua Tomatomasters tại Bỉ có diện tích 13 ha, chuyên sản xuất cà chua trong nhà kính và trên giá thể, cung cấp dinh dưỡng qua hệ thống thủy canh, thụ phấn bằng cách thả ong Humber trong vườn, phòng ngừa dịch hại bằng chế phẩm sinh học, hạn chế tối đa sử dụng thuốc BVTV, sử dụng giống cà chua vô hạn (thân có thể phát triển vô hạn với chiều dài từ 12 - 15 m), mật độ trồng 35.000 cây/ha, cây cho thu hoạch 12 tháng, có năng suất đạt 700 tấn/ha, đạt doanh thu 14 tỷ đồng/năm, tương đương 700.
Đây là công ty sản xuất cà chua có năng suất cao hàng đầu thế giới, hàng năm xuất khẩu sang thị trường châu Âu và bán đảo Scandinavia (Phạm S, 2014). Tại Israel, nếu năm 1950, một nông dân sản xuất quanh năm có thể cung cấp đủ lương thực cho 17 người khác thì đến nay một “công nhân nông nghiệp” đã cung cấp đủ cho 90 người. Trên một ha đất canh tác cho thu hoạch 3 triệu bông hồng, 500 tấn cà chua/vụ; năng suất sữa một con bò đạt 11 tấn/năm… Đó là những con số cho thấy kết quả của nền sản xuất nông nghiệp dựa trên nền tảng khoa học kỹ thuật tiên tiến từ khâu đầu vào cho đến tổ chức sản xuất, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đầu tư cho khoa học và công nghệ trong bất kỳ ngành kinh tế nào cũng là sự đầu tư đúng đắn.
Nông nghiệp UDCNC còn giúp nông dân chủ động trong sản xuất, giảm sự lệ thuộc vào thời tiết và khí hậu và mở rộng quy mô sản xuất dễ dàng. Vai trò này không ở đâu thể hiện rõ nét cho bằng đất nước Israel nhỏ bé khô cằn, thiên nhiên khắc nghiệt cả với con người và sản xuất, đặc biệt là nông nghiệp. Thế nhưng tình trạng thiếu nước, thiếu lương thực giờ chỉ còn trong quá khứ khi 15 mà khoa học và công nghệ tiên tiến trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Từ nước biển chỉ sau nửa giờ đã được lọc thành nước uống, một khối nước bẩn được tái chế có thể tạo thành vùng nuôi khoảng 70 kg cá.
Hiện tại, khoảng 60% sản lượng nông sản xuất khẩu của Israel đều xuất phát từ sa mạc. Thung lũng Arava là địa danh rất tự hào của mọi người dân Israel vì nơi đây, phép màu đã làm nở hoa giữa sa mạc - những phép màu thực sự của khoa học công nghệ, chính là biểu tượng cho ứng dụng khoa học trong nông nghiệp, nơi mà Cố Tổng thống Shimon Peres vào năm 2009 khi đến thăm đã phải thốt lên rằng: “Hãy đến và thấy chính con người cũng có thể tạo nên vườn địa đàng (Gadern of Eden)!”. Israel chính là điển hình cho nền nông nghiệp UDCNC hàng đầu của thế giới Nông nghiệp UDCNC giúp giảm giá thành sản phẩm và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.