Đặt vấn đề Nước ta là một nước có địa hình phức tạp, có nhiều sông ngòi, ao, hồ, kênh rạch, đồng ruộng chiêm trũng, … nên việc chăn nuôi thủy cầm từ lâu đã là một nghề truyền thống của người dân. Trong nhóm thủy cầm thì vịt có thời gian nuôi ngắn, tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị sản phẩm tốt, có thể chăn nuôi ở nhiều vùng sinh thái khác nhau đặc biệt là tận dụng được sản phẩm nông nghiệp tốt và các sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao nên chăn nuôi vịt ở nước ta luôn có tỉ trọng lớn. Trên thực tế, Việt Nam luôn là một trong những nước có đàn thủy cầm lớn, thường đứng thứ 2-3 của thế giới. Theo số liệu của Thống kê chăn nuôi Việt Nam tính đến 1/04/2018 [49] nước ta có 425,10 triệu gia cầm, trong đó có 71,55 triệu con vịt, 29,06 triệu vịt đẻ trứng, sản xuất được 2,30 tỷ quả trứng và hơn 116,14 nghìn tấn thịt, đóng góp một phần quan trọng vào phát triển kinh tế của cả nước.
Nhằm đẩy mạnh phát triển chăn nuôi vịt hướng trứng trong nông hộ, ngoài các giống vịt hướng trứng cho năng suất cao đang nuôi ở nước ta hiện nay như giống vịt Cỏ, vịt Khaki Campbell, CV Layer 2000, vịt Triết Giang là những giống truyền thống lâu năm. Để làm phong phú về giống và nhiều sự chọn lựa cho người chăn nuôi vịt chuyên trứng, ngày 14/06/2011 giống vịt TC của Viện chăn nuôi được Bộ Nông nghiệp và Phát Triên Nông thôn công nhận là một giống. Vịt TC được lai giữa vịt Triết Giang và vịt Cỏ cánh sẻ, qua nhiều thế hệ chọn lọc đã tạo thành nhóm giống, ổn định về đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất và đây là một giống vịt chuyên trứng với năng xuất cao phù hợp với điều kiện khí hậu chăn nuôi tại Việt Nam. h 2 Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm có khu hệ sinh vật phong phú với nhiều giống loài ký sinh trùng gây bệnh cho gia súc, gia cầm.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, nhiều địa phương trong tỉnh có tập quán chăn nuôi vịt nhỏ lẻ, tận dụng nguồn thức ăn trong tự nhiên. Phương thức chăn nuôi như vậy càng tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh ký sinh trùng ở vịt nói riêng đã, đang và sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng đáng kể đến năng suất chăn nuôi vịt tại các địa phương và làm giảm hiệu quả chăn nuôi. Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tỉ lệ mắc bệnh ký sinh trùng trên đàn vịt chuyên trứng TC nuôi thả vườn, năm đẻ thứ hai tại Thái Nguyên và biện pháp phòng trị ”. Mục đích của đề tài - Xác định khả năng sản xuất trứng của vịt TC.
- Xác định tỉ lệ cà cường độ nhiễm ký sinh trùng của đàn vịt TC năm đẻ thứ hai. - Đánh giá hiệu lực tẩy trừng ký sinh trùng trên vịt của levamisol. - Đề xuất một số biện pháp thú y để phòng bệnh ký sinh trùng trên đàn vịt nuôi thả vườn. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Xác định được khả năng sản xuất của vịt TC nuôi trên cạn tại Thái Nguyên, từ đó góp phần vào làm phong phú thêm số liệu sức sản xuất của giống vịt này. - Xác định được tỷ lệ, cường độ nhiễm bệnh ký sinh trùng và biện pháp phòng trừ hiệu quả trên đàn vịt. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả của đề tài là cở sở để phát triển chăn nuôi giống vịt TC này với những nơi hạn chế nước cho vịt tắm, bơi. h 3 - Là cở sở để khuyến cáo người chăn nuôi trong việc phòng và điều trị bệnh ký sinh trùng trên đàn vịt nuôi cạn.
- Giúp bản thân tôi được làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số thông tin về vịt TC Vịt TC là giống vịt lai được các nhà khoa học Việt Nam lai tạo giữa mái vịt Cỏ và trống vịt Triết Giang.
Được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chính thức công nhận là giống vật nuôi được phép sản xuất kinh doanh tại Thông tư số 25/2015/TT–BNNPTNT ngày 01/7/2015 và được Cục Chăn nuôi công nhận là tiến bộ kỹ thuật tại Quyết định số 120/QĐ–CN–GSN ngày 14/6/2011. Vịt được nuôi chủ yếu để lấy trứng và cũng là giống vịt có năng suất trứng cao nhất thế giới hiện nay. Vịt TC có ngoại hình đặc trưng của một giống vịt siêu trứng: cơ thể thanh gọn, thân, cổ nhỏ và dài; màu lông tương đối đồng nhất, con mái có màu cánh sẻ nhưng nhạt hơn vịt Cỏ, đậm hơn vịt Triết Giang. Vịt rất nhanh nhẹn, hoạt động mạnh và thích nghi cao với phương thức chăn thả.
Vịt TC có tỷ lệ nuôi sống cao, cả giai đoạn vịt con và hậu bị đều đạt trên 95 %. Khối lượng vịt TC lúc 8 tuần tuổi đạt 0,9 kg, lúc vào đẻ là 1,2 kg, nặng hơn vịt Triết Giang nhưng nhẹ hơn vị Cỏ (p < 0,05). Vịt thành thục sớm (127 ngày), muộn hơn vịt Triết Giang nhưng sớm hơn rất nhiều so với vịt Cỏ. Vịt đẻ đạt đỉnh cao ở tuần đẻ thứ 6.
Tỷ lệ đẻ bình quân trong 52 tuần đẻ là 78 %, năng suất trứng đạt 284 quả/mái, vịt có ưu thế lai rất rõ rệt về chỉ tiêu này (7,43 %). FCR cho 10 trứng giống là 2,1 kg, ưu thế lai về chỉ tiêu này đạt 2,85 %. h 5 Khối lượng trứng của vịt TC là 67 g, cao hơn rõ rệt so với trứng vịt Triết Giang (61 g). Các chỉ tiêu về chất lượng trứng của vịt TC đều tương đối cao.
Tỷ lệ trứng có phôi là 96 %, tỷ lệ nở 90 %. Tỷ lệ vịt con loại I là 97 %. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm Để duy trì và phát triển đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia cầm. Sản phẩm chủ yếu là thịt và trứng, trong đó sản phẩm trứng được coi là hướng sản xuất chính của gia cầm hướng trứng.
Với gia cầm hướng trứng khả năng sinh sản hay khả năng đẻ trứng quyết định tới năng suất, sản lượng sản phẩm của chăn nuôi gia cầm. Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như tuổi thành thục sinh dục, năng suất trứng, khối lượng trứng, hình dáng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh, khả năng ấp nở. Khả năng sinh sản của gia cầm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: yếu tố di truyền, giống, dòng, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, chế độ chiếu sáng, phương thức nuôi,. Cơ sở giải phẫu cơ quan sinh dục gia cầm Khác với với gia súc và các loài động vật khác, các nhà phôi thai học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: Trứng của gia cầm là một tế bào sinh sản khổng lồ, bao gồm lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ.
Buồng trứng có chức năng hình thành lòng đỏ. Còn các phần khác được hình thành trong quá trình trứng theo ống dẫn trứng ra ngoài, trước hết là lòng trắng tiếp là màng vỏ và cuối cùng là vỏ. Nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho rằng, ở gia cầm trong quá trình phát triển của phôi thai thì bên trái và bên phải đều có buồng trứng phát triển, nhưng sau khi nở ra buồng trứng bên phải teo đi chỉ còn buồng trứng bên trái. Một số tác giả cũng cho rằng, ở một số trường hợp cá biệt thì gia cầm mái cao sản có buồng trứng phát triển ở cả hai bên.
h 6 Sau khi chín, trứng rụng vào loa kèn là phần đầu tiên trong ống dẫn trứng. Ở đây trứng dừng lại khoảng 20 phút, nếu gặp tinh trùng sẽ xảy ra quá trình thụ tinh. Và lớp lòng trắng đầu tiên được hình thành ở cổ phễu, bao bọc xung quanh lòng đỏ, do lòng đỏ chuyển động xoay tròn theo trục dọc, lớp lòng trắng xoắn lại tạo thành dây chằng lòng đỏ và hoàn chỉnh khi đến tử cung. Sau loa kèn đến đoạn ống tiết lòng trắng, ở đây trứng dừng lại khoảng 3 tiếng để hình thành tiếp lòng trắng.
Sau khi lòng trắng gần hoàn thiện, trứng tiếp tục di chuyển xoay tròn đến bộ phận eo. Tại đây, tế bào trứng tiếp tục được hoàn thiện lòng trắng và tạo màng dưới vỏ. Trứng dừng lại ở đoạn này khoảng 70 – 75 phút. Màng dưới vỏ được hình thành, trứng di chuyển xuống tử cung.
Tử cung có hình túi, dài khoảng 8 – 10 cm. Phía ngoài màng dưới vỏ bắt đầu hình thành vỏ cứng, mới bắt đầu là sự lắng đọng những hạt rất nhỏ trên bề mặt của màng dưới vỏ, sau đó tăng lên nhờ quá trình hấp thu muối canxi. Muối canxi lắng đọng được hòa lẫn với một ít lòng trắng tạo thành những núm gai rất vững. Những núm gai này gắn chặt với nhau nhưng giữa chúng có các khoảng trống có tác dụng trao đổi khí (gọi là lỗ khí).
Biểu mô tử cung còn tiết ra một số chất tạo thành lớp màng mỏng phủ lên trên vỏ cứng. Thời gian trứng qua tử cung mất 19 – 20 giờ. Sau khi trứng được hoàn thiện, trứng chuyển động qua âm đạo và qua lỗ huyệt ra ngoài (Trần Thanh Vân và cs, 2015 [37]). Năng suất trứng Năng suất trứng hay sản lượng trứng là số lượng trứng của một gia cầm mái đẻ ra trên một đơn vị thời gian.
Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục. Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh. Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản h 7 xuất, mùa vụ và đặc điểm của cá thể. Năng suất trứng được đánh giá qua sự phụ thuộc vào cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ.
Năng suất trứng là số trứng gia cầm mái đẻ ra trong một đơn vị thời gian. Thông thường người ta tính năng suất trứng cho một năm, cũng có khi tính năng suất trứng trong một năm sinh học (365 ngày hoặc 500 ngày kể từ khi gia cầm nở ra), Fairful và cs, (1990) [45] cho biết: Khi điều kiện môi trường thích hợp (nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng…) nhiều gen tham gia điều khiển quá trình liên quan đến sinh sản đều phát huy tác dụng, cho phép gia cầm phát huy được đầy đủ tiềm năng di truyền của chúng. Năng suất trứng là một tính trạng di truyền số lượng, có hệ số di truyền không cao, có biên độ dao động lớn.