CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cá tra Cá tra là tên gọi một họ, một chi và một số loài cá nước ngọt. Ở Việt Nam, cá tra sống chủ yếu trong lưu vực sông Cửu Long và lưu vực các sông lớn cực nam, có thân dẹp, da trơn, có râu ngắn.
Cá tra (Pangasius hypophthalmus) là một trong những đối tượng nuôi trồng thủy sản đang được phát triển với tốc độ nhanh tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre. Cá tra là một trong những loài cá có giá trị xuất khẩu cao. Cá tra và cá basa của Việt Nam được nhiều thị trường ưa chuộng vì màu sắc cơ thịt trắng, có vị thơm ngon hơn so với các loài cá da trơn khác. Lượng protein trong cá tra, basa vào khoảng 23% đế n 28%, tương đối cao hơn các loài cá nước ngọt khác (16-17% tùy loại cá).
Các protein của cá đề u dễ tiêu hóa và dễ hấp thu hơn thịt động vật khác. Mặt khác, thành phần các protein trong cá tra basa vừa có chứa đầy đủ các acid amin cần thiết cho cơ thể lại vừa có tỷ lệ các acid amin thiết yếu (EAA) rất cân bằng và phù hợp với nhu cầu EAA của con người.1 Thành phầ n hóa học của cá tra trên 100g ăn được Thành phần Tỷ lệ (%) Lipid 3,42 Protein 23,42 Nước 71,75 Khoáng 1,41 Tổng calo 124,52 cal 1. Tổng quan về protein cá và tính năng công nghệ của protein cá 1. Tổng quan về protein cá Như mọi nguồn protein khác, protein trong cá và thủy sản là những chuỗi polypeptide được cấu tạo từ các acid amin.
Các acid amin (nhất là các acid amin không thay thế) hầu như đầy đủ và có giá trị sinh học rất cao. Các acid amin tự do tan trong nước tạo mùi vị đặc trưng cho thủy sản. Điểm đẳng điện của protein trong cá và thủy sản là pHi = 4,5 – 5,5. tại đây protein 1 có tính tan kém nhất và bị kết tủa, Trong thủy sản, cá là một loại thực phẩm dinh dưỡng, có nguồn protein cao, dễ tiêu hóa, rất phổ biến trong các bữa ăn, tính năng công nghệ của protein cá được ứng dụng rất đa dạng.
Protein cá cũng giống với một số loài thủy sản khác, được chia thành 3 loại là: protein cấu trúc, protein chất cơ và protein liên kết. Protein cấu trúc: có dạng sợi, mỗi sợi cơ được tạo bởi nhiều sợi cơ xếp song song với nhau. Mỗi sợi cơ gồm các thớ sợi thô và sợi mảnh. Protein cấu trúc được chia thành 2 nhóm: protein co rút (như myosin, actin) và protein điều hòa co rút (như tropomypsine, troponine, actomyosine).
Protein liên kết: là những protein của mạng, của sợi cơ, của màng ti thể, của mô liên kết… Gồm collagen và esastin, không tan trong nước hoặc dung dịch kiềm, dung dịch muối có ion thấp. Protein cơ chất: gồm myoglobine, myoalbumine, globuline và enzyme. Tan trong nước và trong dung dịch muối có nồng độ ion thấp (<0,15M). Hầu hết protein chất cơ bị đông tụ khi đun nóng trong nước ở nhiệt độ lớn hơn 50oC.
Protein chất cơ ở cá bị đông tụ ở nhiệt độ 90oC trong 10 phút. Sự đông tụ khi gia nhiệt của protein chất cơ phụ thuộc vào protein của tơ cơ. Hiện tượng đông tụ là nguyên nhân làm giảm khả năng tạo gel của protein. Tính năng công nghệ của protein cá Các tính chất hóa lý của protein gây ra những biến đổi có lợi trong quá trình chế biến và bảo quản được gọi là tính chất công nghệ của protein.
Protein nói chung có các tính chất công nghệ sau: tính hydrat hóa, tính hòa tan, sự biến tính, khả năng tạo gel, khả năng tạo nhũ, khả năng tạo bọt, khả năng hấp thu, khả năng tạo sợi. Tính hydrat hóa của protein Là khả năng kết hợp với nước của phân tử protein. Tuy nhiên phân tử protein không tan trong nước mà chỉ trương phồng lên. Nguyên nhân là do trên bề mặt phân tử protein có nhóm háo nước kết hợp với nước bằng lực hút tĩnh điện tạo thành lớp màng hydrat.
Hầu hết các sản phẩm thực phẩm giàu protein có chứa nước thì tính chất hóa lý, tính lưu biến và tính chất cảm quan sẽ phụ thuộc vào khả năng hydrat hóa của protein (Joseph F. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính hydrat hóa của protein: (a) nồng độ của protein: nồng độ protein càng tăng, khả năng hấp thu nước càng tăng; (b) sự thay đổi pH làm thay đổi đến lực tương tác giữa các phân tử protein với nhau và giữa phân tử protein với nước; (c) nhiệt độ: khi nhiệt độ tăng từ 0 – 50oC khả năng hydrat tăng, tuy nhiên khi tiếp tục tăng nhiệt độ lên trên 50oC khi đó protein bị biến 2 tính, làm giảm liên kết hydro nên khả năng hấp thụ nước của protein giảm; (d) nồng độ ion thấp làm tăng khả năng hấp thu nước của protein, ngược lại khi nồng độ ion quá cao sẽ làm cho khả năng tương tác giữa protein và nước giảm do sự cạnh tranh giành lấy nước của ion; (e) các chất chống đông như các loại muối phosphate monosodium, disodium, sodium tripholyphosphate làm tăng khả năng giữ nước, vai trò cơ bản của muối polyphosphate là chất đệm điều chỉnh pH sản phẩm như một anion nhiều hóa trị và cô lập các ion kim loại và khi pH tăng thì khả năng giữ nước cũng tăng lên. Đặc biệt là chúng có thể liên kết một đầu với nhóm mang điện tích dương và đầu còn lại liên kết với phân tử nước, chính vì vậy với một nồng độ thích hợp chúng làm tăng khả năng giữ nước của protein. Tính hòa tan của protein Là khả năng phân tử protein kết hợp với nước và bị phân tán hoàn toàn trong nước.
Độ hòa tan là chỉ số quan trọng của protein được sử dụng trong các đồ uống. Nguyên nhân là do lớp vỏ hydrat hình thành trên bề mặt, các phân tử protein trượt khỏi nhau và bị phân tán trong nước (Joseph F. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tan của protein: Tại pHi, tính tan của protein thấp nhất do protein bị trung hòa về điện tích. Nhiệt độ: nhiệt độ tăng quá cao tính tan càng giảm do protein bị kết tủa xuống.
Nguyên nhân là do các liên kết ngang bị bẻ gãy. Dung môi: hằng số điện môi tăng thì độ tan tăng và ngược lại. Tuy nhiên, hằng số điện môi tăng đến mức độ nào đó thì protein cũng bị kết tủa, do dung môi háo nước phá vỡ vỏ hydrat của phân tử protein. Sự biến tính protein Biến tính protein là sự thay đổi cấu trúc không gian protein dưới tác động của môi trường dẫn đến sự thay đổi tính chất ban đầu của protein.
Có hai loại biến tính: biến tính thuận nghịch: là khi loại bỏ tác nhân gây biến tính thì protein trở lại trạng thái ban đầu. Biến tính không thuận nghịch: là khi loại bỏ tác nhân gây biến tính thì protein không trở về trạng thái ban đầu. Tính chất của protein sau khi biến tính: độ hòa tan giảm, khả năng hydrat hóa giảm, mất hoạt tính sinh học, dễ bị thủy phân hơn, độ nhớt dung dịch tăng. Các tác nhân gây biến tính: nhiệt độ, pH, muối kim loại, hợp chất hữu cơ, bức xạ, cơ học (tác nhân vật lý: như quá trình nhào, trộn, cán…) (Joseph F.
Khả năng tạo gel 3 Khi phân tử protein bị biến tính, cấu trúc bậc cao (cấu trúc bậc 2,3 và 4) bị phá hủy, mạch phân tử bị giãn ra, các cấu tạo hóa học trước đây có thể nằm ẩn bên trong bây giờ xuất hiện ra ngoài. Các mạch polypeptide bị duỗi ra có thể tiếp xúc với nhau và liên kết với nhau tại các vị trí gọi là nút mạng, tạo thành dạng không gian ba chiều hình mạng lưới. Tại các vị trí tiếp cận gần nhau (nút mạng) có thể hình thành các liện kết bền hoặc không bền. Liên kết bền như sự hình thành cầu canxi (R1 - Ca – R2), cầu disulfua (R1 - S - S - R2 ) (Joseph F.
Liên kết không bền như liên kết hydrro, liên kết tĩnh điện, tương tác giữa các nhóm kỵ nước vv. Mạng lưới không gian ba chiều, trong đó có chứa các phân tử của pha phân tán (nước) tạo thành một hệ đồng nhất gọi là gel. Điều kiện tạo gel: gia nhiệt làm biến tính protein, protein duỗi mạch. Hạ nhiệt độ để tạo nhiều liên kết hydro.
Acid hóa, kiềm hóa để gel chắc hơn. Thêm các chất tạo gel khác như polysaccharide làm cầu nối giữa các hạt từ đó làm tăng độ dẻo. Khả năng tạo nhũ Nhũ tương là hệ phân tán của hai chất lỏng không trộn lẫn vào nhau, trong đó một chất ở dưới dạng những giọt nhỏ của pha bị phân tán, còn chất kia ở dưới dạng pha phân tán liên tục, ví dụ hệ nhũ tương dầu trong nước hoặc nước trong dầu. Nhiều nhũ tương thực phẩm còn chứa các bọt khí, có thể có thêm các chất rắn phân tán.
Những sản phẩm là nhũ tương như sữa, kem, bơ, lòng đỏ trứng…Nhũ tương là hệ không bền, luôn có xu hướng hợp giọt để phân pha và phá vỡ cân bằng của hệ. Để làm cho hệ nhũ tương bền, nghĩa là làm cho các giọt luôn ở trạng thái phân tán, không hợp giọt, người ta có thể sử dụng các biện pháp sau: cho các chất điện ly vô cơ vào để làm cho các giọt tích điện và đẩy nhau.Bổ sụng các chất hoạt động bề mặt có cấu trúc lưỡng cực để làm giảm sức căng bề mặt giữa 2 pha. Cho thêm các chất có phân tử lượng lớn hòa tan được trong pha liên tục như polysaccharide để làm tăng độ nhớt của pha liên tục làm cho các giọt không hợp lại được với nhau để phân pha (Joseph F. Bổ sung thêm protein vào hệ nhũ tương để chúng hấp phụ vào bề mặt của liên pha sẽ giữ cho các giọt luôn ở trạng thái phân tán.
Khi protein được hấp thụ vào bề mặt liên pha sẽ tạo những tính chất cơ lý như độ nhớt, độ đàn hồi, có tác dụng bảo vệ các giọt làm cho chúng không hợp lại với nhau được. Ngoài ra, phụ thuộc vào pH môi trường, protein có thể mang điện tích, khi chúng hấp thụ trên bề mặt liên pha sẽ tạo lực đẩy tĩnh điện làm cho hệ nhũ tương bền. Khả năng tạo bọt 4 Các bọt khí thường chứa không khí hoặc khí CO2, áp suất bên trong bọt khí cao hơn bên ngoài làm chúng dễ vỡ. Muốn cho bọt được bền thì màng mỏng bao quanh bọt phải đàn hồi và không thấm khí.