Thực trạng và Giải pháp Quản lý, Bảo tồn Thực vật rừng Nguy cấp tại KBT Đồng Nai

Đánh giá thực trạng tài nguyên thực vật rừng quý hiếm tại KBT Đồng Nai. Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở

2022

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng thực vật quý hiếm tại Đồng Nai

Thực vật quý hiếm Đồng Nai đang đối mặt với những thách thức lớn trong bảo tồn và phát triển. Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai là nơi tập trung nhiều loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm với giá trị sinh học và kinh tế cao. Những loài này bao gồm các cây gỗ quý như lim xanh, gỗ hương, sao đen và nhiều loài thực vật khác có tần suất xuất hiện thấp trong các hệ sinh thái rừng. Theo nghiên cứu khoa học từ Trường Đại học Lâm nghiệp, tài nguyên thực vật rừng thân gỗ tại khu vực này có đa dạng cao nhưng nồng độ quần thể giảm đáng kể. Những áp lực từ khai thác lâm sản, xâm chiếm đất rừng và biến đổi sinh thái đã gây tổn hại nghiêm trọng đến các loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm này.

1.1. Danh mục các loài thực vật quý hiếm phổ biến

Tại Đồng Nai, các loài thực vật rừng thân gỗ nguy cấp bao gồm lim xanh (Hopea odorata), gỗ hương (Aquilaria crassna), sao đen (Dalbergia tonkinensis), và pơ mu (Podocarpus neriifolius). Những loài này được liệt kê trong Danh Sách Đỏ Việt Nam và được bảo vệ theo luật pháp quốc gia. Chỉ số đa dạng của các loài thực vật này cho thấy mối quan hệ sinh thái phức tạp và lợi ích trong việc duy trì cân bằng hệ sinh thái rừng.

1.2. Nguyên nhân suy giảm tài nguyên thực vật

Suy giảm thực vật quý hiếm Đồng Nai chủ yếu do khai thác lâm sản bất hợp pháp, mở rộng nông nghiệp và biến đổi khí hậu. Các hoạt động vi phạm pháp luật về quản lý, bảo tồn thực vật rừng nguy cấp giai đoạn 2017-2021 được ghi nhận từ nhiều nhóm cộng đồng địa phương. Thiếu nhận thức về giá trị bảo tồn cũng góp phần làm gia tăng áp lực lên các loài này.

II. Các giải pháp bảo tồn thực vật quý hiếm hiện nay

Để bảo vệ thực vật rừng quý hiếm Đồng Nai, cần triển khai các giải pháp bảo tồn toàn diện. Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai đã thực hiện nhiều hoạt động quản lý, bảo tồn, phát triển tài nguyên thực vật trong giai đoạn 2017-2021. Các biện pháp chính bao gồm: khoanh nuôi xúc tiến tái sinh (KNXTTS), cấm khai thác các loài nguy cấp, xây dựng vùng đệm bảo vệ, và nâng cao nhận thức cộng đồng. Quản lý, bảo tồn, phát triển tài nguyên cần sự tham gia tích cực của các bên liên quan bao gồm chính quyền, bộ lâm nghiệp, cộng đồng địa phương và các tổ chức bảo tồn. Những giải pháp này nhằm tăng nồng độ quần thể và mở rộng phân bố địa lý của các loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm.

2.1. Các hoạt động quản lý bảo tồn thực hành

Quản lý, bảo tồn, phát triển các loài thực vật rừng thân gỗ nguy cấp được thực hiện thông qua khoanh nuôi tái sinh, cấm khai thác trong các khu vực nhạy cảm, và thiết lập các hành lang sinh thái. Tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách (LLBVRCT) và cộng đồng, giúp theo dõi và ngăn chặn hành vi khai thác bất hợp pháp.

2.2. Tăng cường nhận thức cộng đồng về bảo tồn

Nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị và tầm quan trọng của thực vật quý hiếm là yếu tố chủ chốt. Các chương trình giáo dục, tuyên truyền cần được triển khai thường xuyên để cộng đồng sinh sống trong và lân cận khu rừng hiểu rõ hại gây ra bởi khai thác lâm sản bất hợp pháp đối với tài nguyên thực vật rừng và hệ sinh thái.

III. Vai trò của nghiên cứu khoa học trong bảo tồn

Nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển thực vật quý hiếm Đồng Nai. Các đề tài nghiên cứu cấp cơ sở từ Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp tại Đồng Nai đã cung cấp dữ liệu chi tiết về thực trạng và giải pháp bảo tồn. Nghiên cứu về đặc điểm tài nguyên thực vật rừng thân gỗ, chỉ số đa dạng, tần suất xuất hiện và mối quan hệ sinh thái giúp các nhà quản lý lập kế hoạch bảo tồn hiệu quả. Chuyển giao công nghệ từ các cơ sở nghiên cứu đến các bộ phận quản lý rừng giúp áp dụng những kết quả mới nhất vào công tác quản lý, bảo tồn, phát triển thực tế. Các dữ liệu từ nghiên cứu cũng hỗ trợ việc xây dựng chính sách bảo vệ loài thực vật nguy cấp và xây dựng Danh Sách Đỏ.

3.1. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp và xử lý dữ liệu

Phương pháp điều tra ngoại nghiệp sử dụng các tuyến điều tra và ô quan sát có hệ thống giúp xác định chính xác phân bố địa lý, tần suất và nồng độ của thực vật rừng quý hiếm. Xử lý dữ liệu bằng các công cụ thống kê hiện đại, mô hình Venn và chỉ số Dominance cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm sinh thái của từng loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm.

3.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào quản lý

Kết quả từ nghiên cứu khoa học được áp dụng để hoạch định các chiến lược bảo tồn thực vật quý hiếm dài hạn. Các đề xuất giải pháp từ cấp quản lý, bảo tồn, phát triển đến cấp chi tiết về từng loài giúp tối ưu hóa hiệu quả bảo vệ tài nguyên thực vật rừng và duy trì tính đa dạng sinh học.

IV. Hướng phát triển bền vững bảo tồn thực vật Đồng Nai

Phát triển bền vững thực vật quý hiếm Đồng Nai cần một cách tiếp cận tích hợp kết hợp bảo tồn in-situ (tại chỗ) và ex-situ (ngoài môi trường tự nhiên). Sự tham gia của các bên liên quan - chính quyền địa phương, bộ ngành lâm nghiệp, tổ chức quốc tế, cộng đồng địa phương - là nền tảng cho thành công. Việc nâng cao giá trị kinh tế thông qua chuyển giao công nghệ sinh sản nhân tạo, nuôi trồng bền vững có thể giảm áp lực khai thác rừng tự nhiên. Bảo tồn thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm cần kết hợp với quản lý môi trường toàn diện, bao gồm kiểm soát xâm chiếm đất, khôi phục hệ sinh thái và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Xây dựng hệ thống giám sát liên tục về thực trạng tài nguyên thực vật giúp đánh giá hiệu quả các biện pháp bảo vệ và điều chỉnh kịp thời chiến lược.

4.1. Chuyển giao công nghệ nhân giống các loài quý hiếm

Phát triển kỹ thuật nhân giống nhân tạo cho các loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm như lim xanh, gỗ hương là giải pháp hữu hiệu. Nuôi trồng bền vững tại các vườn ươm chuyên dụng có thể cung cấp cây giống để tái trồng trong rừng và giảm áp lực khai thác từ rừng tự nhiên.

4.2. Xây dựng chiến lược phát triển dài hạn

Chiến lược quản lý, bảo tồn, phát triển thực vật rừng quý hiếm cần được lập cho giai đoạn 2023-2030 với mục tiêu cụ thể, khả năng đo lường. Tích hợp bảo tồn thực vật với các chương trình phát triển kinh tế cộng đồng tạo động lực bảo vệ dài lâu cho tài nguyên thực vật của Đồng Nai.

18/12/2025
Thực trạng và giải pháp quản lý bảo tồn phát triển tài nguyên thực vật rừng nguy cấp quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa đồng nai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về bảo tồn thực vật nguy cấp, quý, hiếm Các loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm luôn là đối tượng nhận được sự quan tâm của các học giả nghiên cứu và của các cơ quan chuyên môn trong quản lý và bảo tồn. Hệ thống cơ sở phân cấp thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm Ở Việt Nam, năm 2019 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/NĐ-CP, về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Năm 2021, Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam tiếp tục ban hành Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 30 tháng 11 năm 2021 sửa đổi bổ sung một số điều khoán của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP.

Trong đó, các loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được phần thành 2 phụ lục: IA và IIA. Trong đó các loài thuộc nhóm IA đã được quy định là các loài thực vật rừng đang bị đe dọa tuyệt chủng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục I CITES phân bố tự nhiên tại Việt Nam. Đối với nhóm IIA là các loài thực vật rừng chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng có nguy cơ bị đe dọa nếu không được quản lý chặt chẽ, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục II CITES có phân bố tự nhiên tại Việt Nam (Chính Phủ Nước CHXHCN Việt Nam, 2019). Văn bản này được thay thế cho các văn bản trước đây như: Nghị định số 32/2006/NĐ-CP; Nghị định số 48/2002/NĐ-CP; Nghị định số 18/HĐBT ngày 17 tháng 01 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng.

Văn bản mới nhất là nghị định 06/2019/NĐ-CP, ban hành kèm theo nghị định là danh lục các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Trong đó, các loài thuộc phụ lục IA gồm có 39 loài thực vật và phụ lục IIA có 55 loài. Gõ đõ là một trong 3 loài gõ thuộc họ Vang (Caesalpiniaceae) được xếp vào phụ lục IIA (Chính Phủ Nước CHXHCN Việt Nam, 2019). Sách đỏ Việt Nam là danh sách các loài động vật, thực vật ở Việt Nam thuộc loại quý hiếm, đang bị giảm sút số lượng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng.

Đây là căn 7 cứ khoa học quan trọng để Nhà nước ban hành những Nghị định và Chỉ thị về việc quản lý bảo vệ và những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển những loài động thực vật hoang dã ở Việt Nam. Dự án Sách đỏ Việt Nam được công bố lần đầu tiên năm 1992. Đây là công trình do Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thực hiện với sự tài trợ của Quỹ SIDA (Thụy Điển). Các tiêu chuẩn sử dụng trong Sách đỏ Việt Nam được xây dựng trên nền các tiêu chuẩn của Sách đỏ IUCN.

Sách đỏ Việt Nam lần đầu tiên phần động vật được xuất bản năm 1992 với 365 loài nằm trong danh mục, phần thực vật được xuất bản năm 1996 với 356 loài nằm trong danh mục. Kết quả thực hiện Sách đỏ Việt Nam 2004 cho thấy tổng số loài động thực vật hoang dã đang bị đe dọa đã lên đến 857 loài, gồm 407 loài động vật và 450 loài thực vật, tức số loài đang bị đe dọa đã tăng đáng kể. Trong phần động vật, nếu như mức độ bị đe dọa cao nhất trong Sách đỏ Việt Nam 1992 chỉ ở hạng nguy cấp thì năm 2004 đã có 6 loài bị coi là tuyệt chủng trên lãnh thổ Việt Nam. Số loài ở mức Nguy cấp là 149 loài, tăng rất nhiều so với 71 loài trong Sách đỏ Việt Nam 1992.

Có 46 loài được xếp ở hạng rất nguy cấp. Phiên bản mới nhất hiện nay là Sách đỏ Việt Nam 2007, được công bố vào ngày 26 tháng 6 năm 2008, theo số liệu này hiện nay tại Việt Nam có 882 loài (418 loài động vật và 464 loại thực vật) đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên, tăng 167 loài so với thời điểm năm 1992. Trong đó có 116 loài động vật được coi là "rất nguy cấp" và 45 loài thực vật "rất nguy cấp" (trong số 196 loài thực vật đang "nguy cấp"). Có 9 loài động vật trước kia chỉ nằm trong tình trạng de dọa nhưng nay xem như đã tuyệt chủng là tê giác 2 sừng, bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá chép gốc, cá Chình nhật, cá Lợ thân thấp, cá Sấu hoa cà, Hươu sao và hoa Lan hài (Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam, 2007).

Sách đỏ Việt Nam 2007 sử dụng tiêu chuẩn IUCN 2.3 của Sách đỏ IUCN 1994, Sách đỏ IUCN của tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (Intemational Union of Conservation of Nature and Natural resources - IUCN) và trung tâm giám sát bảo tồn quốc tế (World Conservation Monitoring Center- WCMC) đã xây dựng những quy định vế tình trạng các loài có nguy cơ tuyệt chủng và các danh mục xếp mục đe doạ 8 của các loài. Sự xếp bậc này căn cứ vào các dữ liệu về phân loại học (Taxonomy), tình trạng quần thể (Population status), xu hướng quần thể (Population trends), sự phân bố (Distribution), tình trạng sinh cảnh (Habitat availability), xu hướng địa lý (Geographic trends) và các mối đe doạ (Threats) và tham khảo ý kiến của các chuyên gia phân loại học, các chuyên gia về các họ động vật riêng biệt của IUCN và của các nhà khoa học các nước. Sự xếp bậc này cũng xem xét tình hình pháp luật liên quan của các nước có loài trên phân bố. Trong khi điều tra xác định tình trạng các loài, IUCN luôn xem xét lại các thông tin cũ, cập nhật 2 năm một lần và phổ biến rộng rãi.

IUCN còn nghiên cứu để sửa nội dung và nguyên tắc xác định tình trạng các loài để đáp ứng những đòi hỏi mới. Năm 1994, IUCN đã sử dụng một số nguyên tắc mới để xác định tình trạng các loài bị đe dọa. Năm 2007, danh mục mới được bổ xung những chi tiết cụ thể về tình trạng các loài và phân chia theo các cấp độ sau (Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam, 2007), trong đó: EX: (tuyệt chủng – Extinct) là một taxon được coi là tuyệt chủng khi không còn nghi ngờ là cá thể cuối cùng của taxon đó đã chết; EW (Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên - Extinct in the wild): Một taxon được coi là tuyệt chủng ngoài thiên nhiên khi chỉ còn thấy trong điều kiện gây trồng, nuôi nhốt (in captivity) hoặc chỉ là một (hoặc nhiều) quần thể đã tự nhiên hóa trở lại bên ngoài vùng phân bố cũ. EN (nguy cấp – Endangered) một taxon được coi là nguy cấp khi chưa phải là rất nguy cấp nhưng đang đứng trước: (c) Phạm vi hoặc chất lượng nơi sinh cư; (d) Số địa điểm tìm thấy hoặc số tiểu quần thể; (e) Số lượng cá thể trưởng thành.

LR (ít nguy cấp - Lower risk) một taxon được coi là ít nguy cấp khi không đáp ứng một tiêu chuẩn nào của các thứ hạng rất nguy cấp, nguy cấp hoặc sẽ nguy cấp. Thứ hạng này có thể phân thành 3 thứ hạng phụ: Phụ thuộc bảo tồn (cd), Sắp bị đe doạ (nt), ít lo ngại (lc) DD (thiếu dẫn liệu - Data deficient) một taxon được coi là thiếu dẫn liệu khi chưa đủ thông tin để có thể đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp về nguy cơ tuyệt chủng, căn cứ trên sự phân bố và tình trạng quần thể. Một taxon trong thứ hạng này có thể đã được nghiên cứu kỹ, đã được biết nhiều về sinh học, song vẫn thiếu các dẫn liệu thích hợp về sự phân bố và độ phong phú. Như vậy, taxon loại này không thuộc một thứ hạng bị đe dọa nào, cũng không tương ứng với thứ hạng LR (ít nguy cấp).

NE (không đánh giá - Not evaluated) một taxon được coi là không đánh giá khi chưa được đối chiếu với các tiêu chuẩn phân hạng. Năm 2008, Quỹ Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF) đã xây dựng bộ công cụ để xác định rừng có giá trị bảo tồn cao. Trong đó đối với công cụ HCV 1.2 là các loài bị đe dọa và nguy cấp, mà ở những khu rừng có các loài bị đe dọa và nguy cấp thường được coi là có giá trị đa dạng sinh học cao. Rừng có nhiều loài như vậy có thể được sử dụng như một chỉ báo về mức độ đa dạng sinh học.

Trong một vài hoàn cảnh, sự hiện hữu của một loài đơn lẻ cũng đủ để hình thành nên giá trị. Đó là những loài cực kỳ nguy cấp và việc bảo tồn những loài này có tầm quan trọng sống còn (WWF - Chương trình Việt Nam, 2008). Các nghiên cứu về giải pháp bảo tồn thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Đối với các loài nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn chõ đến các nghiên cứu lý luận luôn là đối tượng nhận được sự quan tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu. Có một số nghiên cứu đã xác định các nguyên nhân gây suy thoài tài nguyên thực vật nói chung và tài nguyên các loài nguy cấp, quý, hiếm nói riêng.

Hoàng Thị Hường và Đỗ Khắc Hùng, 2015, khi đánh giá đa dạng thành phần loài thực vật và nguyên nhân làm suy thoái thảm thực vật ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang đã chỉ 10 ra tại khu vực nghiên cứu trong 3 kiểu thảm thực vật đã thống kê được 557 loài thuộc 393 chi, 114 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch: ngành Thông đất, ngành Cỏ tháp bút, ngành Dương xỉ, ngành Thông và ngành Ngọc lan. Trong đó 15 họ có từ 10 loài trở lên (chiếm 42,01% tổng số loài), có 13 chi có từ 4 loài trở lên (chiếm 12,39% tổng số loài), có 33 loài thực vật quý hiếm có trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và 7 loài được ghi nhận trong Nghị định 32 của Chính phủ. Thành phâng thực vật ở huyện Vị Xuyên lại đạng bị suy giảm đáng kể cả về diện tích và chất lượng mà nguyên nhân chủ yếu là là do các hoạt động khai thác gỗ, thai thác củi, khai thác lâm sản ngoài gỗ khác và cháy rừng (Hoang Thi Hường và cộng sự. Trong khi Lê Thị Diên và cộng sự (2009) khi nghiên cứu các giải pháp bảo tồn lâm sản ngoài gỗ ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế đã chỉ ra rằng: các mối đe dọa đối với sự tồn tại của các loài LSNG được xác định là do mất nơi cư trú, nhu cầu thị trường tiêu thụ và nhu cầu sử dụng trong gia đình ngày càng cao, khai thác không đảm bảo tái sinh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ