ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, tài nguyên rừng nhiệt đớn càng ngày càng suy giảm. Trên thế giới trung bình hàng năm rừng nhiệt đới mất đi khoảng 11 triệu ha. Năm 1943 nước ta có khảng 14,3 triệu ha nhưng đến nay chỉ còn khoảng 10,9 triệu ha rừng. Mất rừng đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc ít người ở miền núi và trung du.
Rừng có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp lâm sản, bảo tồn đa dạng sinh học, du lịch sinh thái và phòng hộ môi trường. Ngày nay, giá trị phòng hộ môi trường của rừng đã vượt xa giá trị cung cấp lâm sản truyền thống. Là một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với 3/4 diện tích là đồi núi và thường xuyên phải chịu những trận mưa, bão lớn thì rừng phòng hộ có vai trò rất quan trọng đối với nước ta. Xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng là giải pháp có hiệu quả để phòng chống nguy cơ sa mạc hoá đất vùng đồi núi, góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho hàng chục triệu người, cung cấp thêm nhiều loại gỗ và lâm sản ngoài gỗ có giá trị phục vụ cuộc sống và phát triển kinh tế - xã hội miền núi Dự án "Quy hoạch rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Sóc Sơn" vừa được HĐND TP.Hà Nội thông qua tại kỳ họp lần thứ 13.
Vùng quy hoạch này gồm 11 xã, thị trấn vùng đồi, gò và Lâm trường Sóc Sơn cách thủ đô Hà Nội 40km về phía bắc. Theo đó, TP sẽ quy hoạch toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp Sóc Sơn thành rừng phòng hộ bảo vệ môi trường với tổng diện tích 4. Trong đó, đất rừng 4.360,4ha; đất không có rừng 191,1ha; đất vườn ươm cây 5,5ha. Các khu chức năng rừng được quy hoạch kết hợp với phát triển du lịch, dịch vụ.
Cụ thể, khu du lịch văn hoá kết hợp với nghỉ ngơi cuối tuần Đền Sóc n -2- (Đền Gióng) có diện tích 274,8ha; khu vui chơi giải trí, du lịch sinh thái và nghỉ cuối tuần Hồ Đồng Đò, xã Minh Trí có diện tích 191ha; làng sinh thái, du lịch và nghỉ cuối tuần Minh Phú có diện tích 389,7ha; khu du lịch sinh thái và nghỉ cuối tuần Hồ Hoa Sơn - Hồ Hàm Lợn, xã Nam Sơn có diện tích 100,6ha; Khu Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Sóc Sơn, xã Tiên Dược, có diện tích 12,1ha. Kết quả và ý nghĩa của việc xây dựng và phát triển rừng phòng hộ là rất lớn đối với Hà Nội, tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu, đánh giá nào một cách toàn diện và hệ thống về vấn đề này, chủ yếu mới dừng lại đánh giá tình hình triển khai thực hiện kế hoạch. Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài "Thực trạng và một số giải pháp phát triển rừng phòng hộ môi trường tại Lâm trường Sóc Sơn – Hà Nội" đặt ra là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn nhằm tổng kết và đánh giá được thực trạng và các giải pháp kỹ thuật lâm sinh phát triển rừng phòng hộ bảo vệ môi trường tại Sóc Sơn, rút ra những bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất một số khuyến nghị cho việc phát triển mở rộng. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Phát huy hiệu quả trồng rừng là vấn đề mà các nhà khoa học luôn quan tâm nghiên cứu. Cơ sở khoa học cho việc phát triển trồng rừng ở các nước phát triển đã tương đối hoàn thiện từ công tác giống tới các biện pháp tác động cho từng loại rừng, phục vụ đắc lực cho sản xuất lâm nghiệp. Công tác nghiên cứu giống cây rừng Có thể nói, công tác nghiên cứu giống cây rừng góp phần quan trọng vào thành công của công tác trồng rừng. Từ thế kỷ XVIII – XIX, những ý tường về công tác lai giống, sản xuất hạt giống và nhân giống sinh dưỡng cây rừng đã thu được một số thành tựu nhất định: Syrach Lasen đã sản xuất được một số cây lai có hình dáng đẹp và có ưu thế về sinh trưởng.
Nilsson – Ehle (1873 – 1949) đã phất hiện ra Dương núi tam bội có sinh trưởng tốt hơn so với cây nhị bội. Các chương trình chọn giống được bắt đầu ở nhiều nước và tập trung cho nhiều loài sinh trưởng nha trong đó có Bạch đàn. Tại Brazil đã tiến hành chọn cây trội xây dựng vườn giống thụ phấn tự do cho loài E. maculata ngay từ những năm 1952; tại Mỹ là loài E.
Trong 3 năm (1970 – 1973), Úc đã chọn cây chội thành công cho loài E. regnans và loài E. diversicolor ở Úc và loài E. deglupta ở Papua New Guinea cũng được tiến hành chọn cây trội ở rừng tự nhiên.
Cho tới nay, ở nhiều nước trên thế giới đã có những giống cây trồng rừng cho năng suất rất cao nhờ những chương trình nghiên cứu chọn tạo giống mới như tại Brazil, những khu thí nghiệm Bạch đàn lai E. urophylla năng suất đạt 100m3/năm (Kageyama, 1984). Ở Công Go năng suất rừng cũng đạt 40-50m3/ha/ năm. Theo Covin (1990) tại pháp và Ý, với năng n -4- năng suất rừng đạt 40-50m3/ha/năm đã thu hút sự chuyển đổi hàng ngàn ha đất nông nghiệp thành rừng cung cấp nguyên liệu giấy cho hiệu quả kinh tế cao.
Tại Thái Lan Tếch cũng đạt sản lượng 15-20 m3/ha/năm Cesar Nuevo (2000) đã có những khảo nghiệm về Keo có xuất xứ từ Úc và Papua New Guinea, các giống Lõi thọ ở các địa phương khác nhau thuộc Mindanao; trên cơ sở đó lựa chọn những xuất xứ tốt nhất đẻ xây dựng vùng sản xuất giống. Chọn giống kháng bệnh cũng là hướng nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm. Tại Brazil, Ken Old, Alffenas và các cộng sự từ năm 2000-2003 đã thực hiện một chương trình chọn giống kháng bện cho các loài Bạch Đàn chống bênh gỉ sắt Puccinia. Các công trình nghiên cứu về lai giống cũng đã mang lại nhiều kết quả tốt phục vụ trồng rừng sản xuất (Assis, 2000), (Paramathma, Surendran, 2000), (FAO, 1979),… 1.
Nghiên cứu xói mòn đất và thủy văn rừng Để có cơ sở khoa học cho việc xây dựng và quản lý rừng phòng hộ thì việc tìm hiểu nguyên nhân xói mòn và hiện tượng xói mòn của đất vùng đầu nguồn rất được quan tâm. Nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước hạt mưa, cường độ mưa, phân bố mưa tới xói mòn đất như công trình nghiên cứu của Hudson HW (1971) [9], Zakharop P. Ảnh hưởng của các yếu tố độ dốc, chiều dài dốc, loại đất, lớp thực bì cũng được quan tâm nghiên cứu và công bố rộng rãi trong nhiều công trình khoa học của các tác giả như Smith D. Công trình nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất và dòng chảy được nhà bác học Volni người Đức thực hiện trong thời kỳ 1877 đến 1885 (Hudson N, 1981) [9].
Những ô thí nghiệm được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng của n -5- nhiều nhân tố như: Thực bì, loại đất, độ dốc mặt đất, lượng mưa tới dòng chảy và xói mòn đất. Trong công trình này Volni cũng nghiên cứu ảnh hưởng của loại đất và độ dốc mặt đất tới dòng chảy và xói mòn đất. Tuy nhiên, phần lớn các kết luận chưa được định lượng rõ ràng. Bằng thí nghiệm trong phòng, Ellison (theo Hudson N, 1981 [9]) thấy rằng các loại đất khác nhau có biểu hiện khác nhau trong các pha xói mòn đất do nước.
Ellison là người đầu tiên phát hiện ra vai trò của lớp phủ thực vật trong việc hạn chế xói mòn đất và vai trò cực kỳ quan trọng của hạt mưa rơi đối với xói mòn. Phát hiện của Ellison đã mở ra một phương hướng mới trong nghiên cứu xói mòn đất, đã làm thay đổi quan điểm nghiên cứu về xói mòn và khẳng định khả năng bảo vệ đất của lớp thảm thực vật. Kết quả quan trọng của nghiên cứu xói mòn và khả năng bảo vệ đất, bằng các kết quả nghiên cứu thực nghiệm các nhà nghiên cứu đã xây dựng được phương trình mất đất ở trường Đại học Tổng hợp Pardiu (Mỹ) vào cuối năm 1950 (Hudson N, 1981 [9]). Sau đó phương trình này được W.
H, Wischmeier hoàn chỉnh dần (W. Phương trình đất mất đất làm sáng tỏ vai trò của từng nhân tố ảnh hưởng tới xói mòn. Nó còn có tác dụng định hướng cho nhiều nghiên cứu sau này nhằm xác định quy luật xói mòn và nghiên cứu các mô hình canh tác bền vững ở các khu vực có điều kiện địa lý khác nhau. Việc nghiên cứu định lượng ảnh hưởng của các yếu tố tới xói mòn đất lần đầu tiên được V.
Sing (1940) đưa ra khi tìm cách xác định ảnh hưởng của chiều dài sườn dốc (L) và độ dốc (S) đến hoạt động của xói mòn.D (1941) đã xác định lượng đất xói mòn cho phép và lần đầu tiên đã đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố cây trồng (C), cũng như việc áp dụng các biện pháp bảo vệ đất (P) ở các mức độ khác nhau đến xói mòn đất bằng các công trình nhân tạo. Tiếp đó, nhiều phương trình dự báo xói mòn đã được n -6- nghiên cứu và công bố, trong đó phương trình của Wischmeier W.D đã được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi. Lượng nước mưa giữ lại trên tán là một trong những chỉ tiêu phản ánh khả năng giữ nước, từ đó ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ của rừng. Các công trình nghiên cứu cho thấy tỷ lện lượng nước mưa giữ lại trên tán lá rừng lá kim ôn đới chiếm tới 20 - 40% (Vương Lễ Tiên và Lý Á Quang, 1991).
Những nghiên cứu về tỷ lệ lượng mưa ngăn giữ bởi tán rừng ở các kiểu thảm tực vật rừng tương ứng với các đới khí hậu khác nhau ở Trung Quốc cho thấy, phạm vi biến động của tỷ lệ lượng mưa bị ngăn giữ lại trong khoảng 11,4 - 34,3%, hệ số biến động 6,68 - 55,05%, trong đó tỷ lệ lượng nước mưa giữ lại trên tán rừng lá kim thường xanh á nhiệt đới, trên núi cao ở miền tây là lớn nhất, của rừng hỗn giao cây lá rộng thường xanh với cây lá rộng rụng lá á nhiệt đới, miền núi là nhỏ nhất (Vu Chí Dân - Christohp Peisert - Dư Tân Hiểu (2001) [28]). Lượng nước mưa lọt tán đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu. Tuy nhiên, chỉ có một số ít công trình nghiên cứu đảm bảo được độ tin cậy cần thiết khi đưa ra số liệu về thành phần cân bằng nước này (Bruijnzeel L A, 1990a, 1990b [37]).