CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Khái quát về tài trợ thương mại quốc tế của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm tài trợ thương mại quốc tế Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng liên quan đến các nội dung: - Thứ nhất, tài trợ xuất nhập khẩu phải dựa trên cơ sở hợp đồng xuất nhập khẩu, đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt với các nội dung tài trợ khác. Mỗi hợp đồng xuất nhập khẩu được xem là một thương vụ, và theo cách hiểu truyền thống bao gồm một người bán ở quốc gia này cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho một người mua ở một quốc gia khác.
- Thứ hai, hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là các nghiệp vụ của ngân hàng nhằm mục đích sinh lời. - Thứ ba, ngân hàng tài trợ xuất nhập khẩu bằng nguồn lực tài chính và uy tín của mình qua đó làm phát sinh quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với nhà kinh doanh xuất nhập khẩu. - Thứ tư, các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác. Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng bao gồm tất cả các hình thức cấp tín dụng liên quan đến hợp đồng xuất nhập khẩu, đây được xem là điểm đặc thù.
Do vậy, GS. TS Nguyễn Văn Tiến (2017) chỉ ra trong cuốn “Cẩm nang Thanh toán quốc tế &Tài trợ ngoại thương”, NXB Lao Động rằng bất kỳ hoạt động nào của ngân hàng liên quan đến hợp đồng xuất nhập khẩu mà làm phát sinh quan hệ tín dụng thì được gọi là tài trợ xuất nhập khẩu.Hay nói cách khác, tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng là các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho nhà kinh doanh xuất nhập khẩu nhằm thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Từ khái niệm trên cho thấy, các hoạt động cung cấp dịch vụ của ngân hàng mà không làm phát sinh quan hệ tín dụng thì không được xem là hoạt động tài trợ. Vì vậy, trong số các phương thức thanh toán quốc tế gồm chuyển tiền, ứng trước, ghi sổ, nhờ thu và tín dụng chứng từ thì chỉ có phương thức tín dụng chứng từ mới đương nhiên làm phát sinh quan hệ tín dụng theo bản chất của 7 phương thức này.
Đối với các phương thức thanh toán còn lại, mức độ tài trợ của ngân hàng đến đâu là phụ thuộc vào thỏa thuận giữa ngân hàng với khách hàng. Các hình thức tài trợ thương mạiquốc tế Tài trợ TMQT có thể được chia thành nhiều hình thức dựa theo từng tiêu chí cụ thể khác nhau như: cơ sở nghiệp vụ, tiến trình giao hàng hay đối tượng tài trợ. Tuy nhiên, trong phạm vibài viết, tác giả chỉ phân loại tài trợ TMQT căn cứ trên cơ sở nghiệp vụ như sau: 1. Tài trợ trên cơ sở nghiệp vụ cho vay Là nghiệp vụ cho vay trực tiếp để tài trợ cho doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu.Đây là nghiệp vụ mang tính truyền thống của NHTM.
Các ngân hàng thường cấp tín dụng trực tiếp bằng đồng nội tệ hoặc ngoại tệ cho các doanh nghiệp để hỗ trợ về mặt tài chính, giúp các doanh nghiệp này mua nguyên vật liệu, máy móc, thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng xuất nhập khẩu. Căn cứ vào thời hạn tài trợ: Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng lớn tại các ngân hàng. Tín dụng trung và dài hạn: Thời hạn quy định của tín dụng trung và dài hạn tùy theo quy định của mỗi nước. Ở Việt Nam, tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1 đến 5 năm, tín dụng dài hạn từ 5 năm trở lên.
Hình thức này được cung cấp để đầu tư, mua sắm tài sản cố định, xây dựng mới, cải tạo mở rộng hiện đại hóa công nghệ. Tài trợ trên cơ sở phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Theo Nguyễn Trọng Thủy (2009) trong cuốn“Toàn tập UCP- Quy tắc & thực hành Thống nhất tín dụng chứng từ”, NXB Thống Kê,thư tín dụng là một sự thỏa thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hay gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp. Thanh toán ở đây có nghĩa là: (i) Trả tiền ngay, nếu tín dụng có giá trị thanh toán ngay. (ii) Cam kết trả chậm và trả tiền khi đến hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán về sau.
8 (iii) Chấp nhận hối phiếu do người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận.” Một số loại hình thức gắn với phương thức tài trợ này là: a. Phát hành thư tín dụng Đây là hình thức tài trợ thanh toán đối với nhà nhập khẩu.Khi ngân hàng đồng ý mở L/C cho khách hàng nghĩa là ngân hàng đã cam kết thanh toán cho nhà xuất khẩu nước ngoài nếu bộ chứng từ xuất trình phù hợp.Với cam kết như vậy, ngân hàng đã chấp nhận rủi ro về mình vì nếu nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán thì NHPH vẫn phải thanh toán khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp.Thông thường khi mở L/C, ngân hàng yêu cầu nhà nhập khẩu ký quỹ để giảm thiểu rủi ro cho mình và để chứng minh khả năng thanh toán của họ. Xác nhận thư tín dụng Trong trường hợp nhà xuất khẩu không tin tưởng vào uy tín của NHPH hoặc lo ngại về rủi ro quốc gia của nhà nhập khẩu và muốn có sự đảm bảo chắc chắn được thanh toán thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của NHPH. Về lý thuyết, ngân hàng xác nhận phải là một ngân hàng lớn, có uy tín, tuy nhiên trong thực tế thì người thụ hưởng thường chỉ định ngân hàng xác nhận, nếu không chỉ định thì ngân hàng phát hành sẽ tự chọn, và ngân hàng thông báo thường được đề nghị là ngân hàng xác nhận.
Tài trợ bằng một số loại L/C đặc biệt - Tài trợ bằng L/C chuyển nhượng (Transferable L/C) L/C chuyển nhượng là L/C, theo đó, người hưởng lợi (người thụ hưởng thứ nhất) có thể yêu cầu ngân hàng được ủy quyền (ngân hàng chuyển nhượng) thực hiện việc trả tiền, cam kết trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu, trong trường hợp L/C được chiết khấu tự do, ngân hàng được ủy quyền trong L/C có vai trò là ngân hàng chuyển nhượng sẽ phân bổ toàn bộ hay một phần L/C cho một hay nhiều người thụ hưởng khác (người hưởng lợi thứ hai). - Tài trợ bằng L/C giáp lưng (Back to back L/C) Sau khi nhận được L/C do nhà nhà nhập khẩu mở cho nhà trung gian hưởng, nhà trung gian căn cứ vào nội dung của L/C này và dùng chính L/C này 9 để thế chấp mở một L/C khác cho nhà xuất khẩu hưởng với nội dung gần giống như L/C ban đầu. Khi người trung gian không thể tự mình cung cấp hàng hóa thì L/C giáp lưng trở thành công cụ tài trợ, làm đảm bảo để mở L/C đối cho nhà cung cấp hàng hóa hưởng.Như vậy, người trung gian vẫn thực hiện được hợp đồng ngoại thương và được hưởng lợi từ thương vụ này. - Tài trợ bằng L/C tuần hoàn (Revolving L/C) Là loại L/C không thể hủy ngang mà sau khi sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại (tự động) có giá trị như cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời gian nhất định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện.
- Tài trợ bằng L/C dự phòng (Stand – by L/C) Để bảo vệ quyền lợi của nhà nhập khẩu, trong trường hợp nhà xuất khẩu đã nhận được L/C, tiền đặt cọc, tiền ứng trước,nhưng không có khả năng giao hàng, hoặc không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như đã quy định trong L/C, đòi hỏi ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành một L/C trong đó cam kết trả lại tiền đặt cọc, tiền ứng trước và phí mở L/C cho nhà nhập khẩu. Một L/C như vậy gọi là L/C dự phòng. - Tài trợ theo L/C điều khoản đỏ (Red clause L/C) Là loại L/C mà ngân hàng phát hành cho phép ngân hàng thông báo ứng trước cho người thụ hưởng để mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ sản xuất theo L/C đã mở. Số tiền ứng trước được lấy từ tài khoản của người mở, nghĩa là tín dụng thương mại, mà không phải là tín dụng của ngân hàng thông báo hay ngân hàng phát hành.
Chi phí tài trợ do nhà nhập khẩu chịu, song trách nhiệm tài trợ lại thuộc về ngân hàng phát hành theo các điều kiện quy định trong L/C. - Tài trợ theo L/C đối ứng (Reciprocal L/C) Là loại L/C chỉ bắt đầu có hiệu lực khi L/C đối ứng với nó có hiệu lực và ngược lại.L/C đối ứng được sử dụng trong trường hợp nhà cung cấp nguyên vật liệu và nhà gia công ở hai nước khác nhau; trong phương thức mua bán hàng đổi hàng; trong giao dịch người bán đồng thời là người mua và ngược lại. Tài trợ trên cơ sở phương thức nhờ thu 10 Nhờ thu là phương thức thanh toán, theo đó nhà xuất khẩu sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy thác cho bên ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ thông qua ngân hàng đại lý cho nhà nhập khẩu để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay các điều kiện, điều khoản khác. Các loại hình tài trợ ngoại thương chủ yếu dựa trên phương thức nhờ thu: a.
Chấp nhận thanh toán Đối với loại nhờ thu D/A, nhà nhập khẩu được quyền nhận chứng từ thương mại sau khi chấp nhận thanh toán vào ngày đáo hạn. Điều này đồng nghĩa với trách nhiệm của ngân hàng thu hộ trong D/A là chuyển giao chứng từ cho người mua khi và chỉ khi có bằng chứng chấp nhận thanh toán từ chính người trả tiền. Ủy quyền nhận hàng và ký hậu B/L Ngân hàng còn có thể tài trợ cho nhà nhập khẩu thông qua việc phát hành ủy quyền nhận hàng và ký hậu B/L. Theo đó, ủy quyền nhận hàng được thực hiện đối với những vận đơn hàng không quy định người nhận hàng theo lệnh của ngân hàng tài trợ; ký hậu B/L được thực hiện đối với vận đơn đường biển quy định người nhận hành theo lệnh của ngân hàng tài trợ.