CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO HIỂM TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN 1. Khái quát về phí bảo hiểm bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 1. Khái niệm về phí bảo hiểm và phí bảo hiểm tài sản Bảo hiểm ra đời là lĩnh vực ra đời từ khá sớm song đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất, bởi lẽ dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau các tác giả lại đưa ra một khái niệm thể hiệm góc nhìn về bảo hiểm. Dước góc độ pháp lý, giáo sư Hemard đưa ra khái niệm.
“Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bảo hiểm hay đóng góp bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản tiền bồi thường từ một bên khác là người bảo hiểm,người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo Luật Thống Kê7”. Theo Dennis Kenssler.Jan-Mars 1994 - Mỹ “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít8”. Dưới góc độ kinh tế học, TS. Hoàng Văn Châu định nghĩa: “Bảo hiểm là phương pháp chia nhỏ tổn thất của một người hay một số ít người cho nhiều người cùng có khả năng gặp những tổn thất như vậy, bằng cách thu của họ một số tiền nào đấy tuỳ theo mức độ rủi ro (xác suất tổn thất) mà họ có thể gặp để lập ra một quỹ chung và khi có thiên tai hoặc tai nạn bất ngờ thì từ quỹ chung đó bồi thường cho họ những tổn thất mà họ phải chịu.
Nhờ cách chia nhỏ như vậy, những tổn thất lẽ ra rất nặng nề và nghiêm trọng đối với một người, một số ít người sẽ trở nên ít nghiêm trọng hơn, ít nặng nề hơn, thậm chí không đáng kể đối với cả cộng đồng những người tham gia bảo hiểm9”. Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam định nghĩa: “Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay một số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho các thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do những rủi ro đó gây ra10”. Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm “thiệt hại”. Theo Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi, bổ sung 2010 và sửa đổi bổ sung 2019) (sửa đổi bổ 7 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2008), “Giáo trình bảo hiểm”, Nxb.
Đại học Kinh tế Quốc dân, tr. 8 Trường Đại học Công nghiệp TP. Thống kê, tr. 9 Hoàng Văn (2002), “Bảo hiểm trong kinh doanh”, Nxb.
Khoa học và kỹ thuật, tr. 10 Nguyễn Thị Thủy (2017), tlđd (4), tr. 16 sung 2010,2019) “Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ11”. Luật KDBH năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019 định nghĩa: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm12”.
Để đưa ra đinh nghĩa về bảo hiểm dưới góc độ phù hợp với bản chất, cơ chế kinh tế trong mối quan hệ pháp lý với HĐBH bảo hiệm. Theo tác giả, bảo hiểm là hoạt động tạo lập quỹ tiền tệ của bên bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ nguồn thu phí (ngoài ra còn nguồn khác như vốn, lợi nhuận… của DNBH được trích lập) bảo hiểm của bên mua bảo hiểm. Bên bảo hiểm (DNBH) sử dụng quỹ này để chi trả hoặc bồi thường cho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo cam kết và theo quy định của pháp luật. Như vậy trong định nghĩa đã thể hiện mối quan hệ giữa “quỹ tiền tệ”, “phí bảo hiểm” và “sự kiện bảo hiểm” với trách nhiệm trả tiền hoặc bồi thường bảo hiểm của nhà bảo hiểm.
Hiện nay, khái niệm về phí bảo hiểm được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Phí bảo hiểm là một bộ phận cấu thành nên mối quan hệ giữa các bên trong HĐBH mối quan hệ này thể hiện tính chất pháp lý bởi lẽ, “hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và DNBH, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm13”. Dưới góc độ pháp lý tiếp cận về thuật ngữ “phí” thì “phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này14”. Theo đó, phí được hiểu là một khoản tiền phải trả của các tổ chức, cá nhân để bù đáp chi phí các hoạt động của các để bù đắp chi phí hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghệp công lập và tổ chức được nhà nước giao thẩm quyền.
Như vậy, cơ sở để thu phí là một bên cung cấp dịch vụ và một bên sử dụng dịch vụ khoản tiền phải tra là trả cho dịch vụ được bên nhận dịch vụ sử dụng, phí được xem là 11 Khoản 18, Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019. 12 Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019. 13 Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019. 14 Khoản 1, Điều 3 Luật phí và lệ phí năm 2015.
17 khoản thu để trang trải cho cơ sở hạ tầng, kỹ thuật cung cấp dịch vụ và bộ máy hoạt động. Phí mang tính chất tự nguyện và đối giá. Theo từ điển Oxford phí bảo hiểm được hiểu là: “phí bảo hiểm là một số tiền phải trả cho một hợp đồng bảo hiểm15”. Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) định nghĩa phí bảo hiểm là giá cả của dịch vụ bảo hiểm (sản phẩm bảo hiểm), là số tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả theo hợp đồng để DNBH đảm bảo cho họ trước các rủi ro16.
Theo các tác giả của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Phí bảo hiểm (còn được gọi là giá cả của sản phẩm bảo hiểm) là một số tiền mà người tham gia bảo hiểm phải trả cho công ty bảo hiểm để đổi lấy sự đảm bảo trước các rủi ro chuyển sang cho công ty bảo hiểm17. Thuật ngữ phí bảo hiểm thường được dùng trong các công ty bảo hiểm, trong khi đó các tổ chức hay hội tương hỗ lại sử dụng thuật ngữ “mức đóng góp”. Theo quy định của pháp luật Việt Nam khái niệm phí bảo hiểm được các nhà lập pháp Việt Nam ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự 1995 và Bộ Luật Dân sự 2005 (BLDS) trong Mục Hợp đồng bảo hiểm18.
Tuy nhiên, khi ban hành Bộ Luật Dân sự 2015 thì quy định này đã bãi bỏ. Hiện nay khái niệm về phí được ghi nhận trong Luật KDBH năm 2000, (sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019). Theo đó, phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho DNBH theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm19. Thực tế hiện nay, đối với phí bảo hiểm tài sản không có định nghĩa nào về phí bảo hiểm tài sản tác giả dựa vào định nghĩa về phí, phí bảo hiểm và bản chất của HĐBH tài sản xin được đưa ra định nghĩa về phí bảo hiểm tài sản.
“Phí bảo hiểm tài sản là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm tài sản phải trả cho Doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức các bên thỏa thuận trong hợp đồng, đây là nguồn thu chủ yếu để Doanh nghiệp bảo hiểm tạo lập quỹ bảo hiểm”. Đặc điểm của phí bảo hiểm tài sản Phí bảo hiểm thể hiện mối quan hệ tài chính giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ trong mối quan hệ này quyền lợi ích của mỗi bên được thể hiện bởi được thực hiện bởi bên kia và ngược lại xuất phát từ yêu cầu đó phí bảo hiểm có những đặc điểm sau: 15 “Premium is an amount to be paid for a contract of insurance”.vn/phi-bao-hiem-insurance-premium-la-gi-moi-lien-he-giua-phi-bao-hiem-va-so-tien-bao- hiem- 17 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2008), tlđd (7), Nxb. Đại học Kinh tế Quốc dân, tr. 18 Điều 576 Bộ Luật Dân sự 1995 và Điều 572 Bộ Luật Dân sự 2005.
19 Khoản 11, Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019. 18 Thứ nhất, phí bảo hiểm được cơ cấu gồm hai phần, từ cơ cấu phí xác lập một khoản tiền cụ thể mà bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ phải thanh toán cho DNBH. Một là, phí thuần thường mang tính tương đối, là khoản phí phải thu cho phép công ty bảo hiểm đảm bảo chi trả, bồi thường cho các khoản tổn thất được bảo hiểm khi nó xảy ra. Khoản phí này thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng phí toàn bộ và được tính toán dựa trên các căn cứ như: (i) Xác suất xảy ra rủi ro (khả năng xảy ra tổn thất phải bồi thường); (ii) Cường độ tổn thất (tính khốc liệt, mức độ trầm trọng của tổn thất); (iii) Số tiền bảo hiểm; (iv) Thời hạn bảo hiểm (Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian DNBH thực hiện trách nhiệm bảo hiểm); (v) Lãi suất đầu tư (thông thường đây là yếu tố chi phối rất nhiều đến phí thuần trong bảo hiểm nhân thọ); Hai là, phụ phí được biểu hiện rõ thường được xác lập thành con số cho các sản phẩm cụ thể, là khoản chi phí cần thiết để công ty bảo hiểm đảm bảo cho các hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm như chi hoa hồng, chi quản lý hành chính, chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi thuế nhà nước, … Từ cơ cấu phí như trên công thức tính phí được xác lập như sau: P = f + d (trong đó P là phí bảo hiểm toàn bộ; f là phí thuần; d là phụ phí).