Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI Hoạt động tài chính - ngân hàng luôn gắn với sự nhạy c ảm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Việc hoạt động kém hiệu quả hoặc sự sụp đổ của một ngân hàng không chỉ bó gọn trong ngân hàng riêng lẻ đó mà nó còn có thể tạo ra một phản ứng dây chuyền dẫn tới sự sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng , điều này sẽ có tác động rất tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế của quốc gia , vì vậy các quốc gia cần phải có một cơ chế hữu hiệu nhằm củng cố , đảm bảo cho sự phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền - đối tượng cung cấp nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động của hệ thống ngân hàng, đó chính là cơ chế bảo hiểm tiền gửi. Hiện nay, thuật ngữ "bảo hiểm tiền gửi" đã không còn xa lạ đối với chúng ta, nhưng để hiểu một cách cụ thể về cơ chế đó thì có lẽ không phải ai cũng làm được. Chính vì vậy, để có cơ sở đi sâu phân tích, nghiên cứu các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở những phần tiếp theo thì trước tiên chúng ta cần tìm hiểu một số vấn đề lý luận cơ bản nhất về bảo hiểm tiền gửi.
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT, MỤC ĐÍCH VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi 1. Khái niệm bảo hiểm tiền gửi * Khái niệm tiền gửi: Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển về hoạt động của các tổ chức tín dụng có thể thấy rằng, một trong những hoạt động cơ bản của các tổ 11 z chức tín dụng là hoạt động huy động vốn từ công chúng bằng nhiều hình thức khác nhau như nhận tiền gửi dưới dạng tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm; phát hành kỳ phiếu; phát hành chứng chỉ tiền gửi… Nguồn vốn huy động này sẽ được các tổ chức tín dụng cho các chủ thể khác trong nền kinh tế vay nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và đời sống. Như vậy, các tổ chức tín dụng đã trở thành trung gian tài chính giữa người gửi tiền - người cho vay và người đi vay.
Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý thì người cho vay và người đi vay không có mối liên hệ pháp lý nào, họ chỉ biết đến hợp đồng được ký kết giữa mình với tổ chức tín dụng và tổ chức tín dụng là chủ thể trung chuyển nguồn vốn giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Điều này có nghĩa là tổ chức tín dụng có toàn quyền sử dụng đồng vốn mà họ huy động được, chủ động quyết định việc cho chủ thể nào vay và phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền khi đáo hạn hoặc khi người gửi tiền có nhu cầu. Như vậy, có thể thấy rằng thuật ngữ "tiền gửi" đã được sử dụng từ rất lâu và gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của hoạt động ngân hàng. Ở giai đoạn bắt đầu xuất hiện hoạt động ngân hàng thì thuật ngữ tiền gửi chỉ được hiểu một cách đơn giản là các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng nhưng họ không muốn hoặc không biết đầu tư vào đâu nên đem gửi vào ngân hàng với mục đích tiết kiệm và bảo đảm an toàn cho tài sản của mình.
Sau này, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, hoạt động ngân hàng cũng ngày càng phát triển và kéo theo đó là sự hình thành hàng loạt hoạt động nghiệp vụ ngân hàng khác như cho vay, thanh toán… thì các khoản tiền gửi của dân chúng tại ngân hàng không đơn thuần chỉ nhằm mục đích bảo quản tài sản nữa mà đã được hưởng lãi. Ngày nay, khi nhu cầu về vốn trong nền kinh tế là rất lớn thì yêu cầu huy động vốn nhàn rỗi từ dân chúng của các ngân hàng cũng ngày càng tăng và để khuyến khích việc gửi tiền vào ngân hàng thì các ngân hàng ngày càng 12 z phải nâng cao chất lượng dịch vụ, đưa ra các mức lãi suất huy động phù hợp… Do đó, thuật ngữ tiền gửi cũng được hiểu rộng hơn và được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về tài chính ngân hàng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia cũng lại có quan niệm và sự phân loại tiền gửi khác nhau. Chẳng hạn, tại Điều 2 Đạo luật 372 - Luật về các tổ chức tài chính và ngân hàng năm 1989 của Malaysia quy định: Tiền gửi có nghĩa là một khoản tiền đã nhận hay được hoàn trả theo các điều kiện: a) mà theo đó khoản tiền sẽ được hoàn trả, có hoặc không có lãi hoặc có cộng thêm phí hoặc chiết khấu đi; hoặc b) mà theo đó khoản tiền phải hoàn trả, toàn bộ hoặc một phần, với bất kỳ tính toán nào về tiền tệ hoặc trị giá tiền tệ, và khoản được hoàn trả như vậy không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn hoặc trong những hoàn cảnh được thỏa thuận bởi hoặc thay mặt cho người thực hiện thanh toán và người nhận thanh toán, bất kỳ là giao dịch được coi như là một khoản cho vay, một khoản ứng trước, một khoản đầu tư, khoản tiết kiệm, mua hoặc mua và bán, nhưng không tính yếu tố xác thực của khoản tiền được trả [10].
Như vậy, theo định nghĩa này thì tiền gửi là khái niệm được hiểu rất rộng, nó không đơn thuần chỉ là các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng gửi tại ngân hàng để tiết kiệm hay nhằm hưởng lãi mà còn là các khoản tiền gửi nhằm mục đích khác nhau như để đầu tư, đặt cọc hay ứng trước… Hay tại Phần 3 Luật bảo hiểm tiền gửi của Mỹ cũng đưa ra khái niệm: Tiền gửi có nghĩa là số dư tiền hoặc giá trị tương đương chưa được thanh toán đã được nhận hoặc giữ bởi một ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh thông thường và từ đó nó cấp hoặc có nghĩa vụ cấp tín dụng, dù là có điều kiện hay không điều kiện, cho một tài khoản thương mại, séc, tiết kiệm, 13 z không kỳ hạn hoặc được chứng minh bằng giấy chứng nhận tiền gửi, chứng nhận tiết kiệm, chứng nhận đầu tư, chứng nhận nợ, hoặc những tên tương tự, hoặc séc hay hối phiếu rút từ tài khoản tiền gửi và được chứng nhận bởi ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm, hoặc thư tín dụng hoặc séc du lịch mà ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm có nghĩa vụ đầu tiên [4]. Tại Việt Nam, khái niệm tiền gửi cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật. Theo quy định tại khoản 20, Điều 9 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 thì "Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền" [35].
Theo định nghĩa này có thể biết được những khoản tiền nào của khách hàng được coi là tiền gửi, nhưng những khoản tiền đó phải được gửi tại các tổ chức tín dụng, còn những khoản tiền gửi tại các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng thì không được coi là tiền gửi. Đây chính là một điểm bất cập của pháp luật Việt Nam về vấn đề này. Chính vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004 đã có sự thay đổi lớn về phạm vi và chủ thể gửi tiền khi xác định: "Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền" [37, khoản 3 Điều 1].
Tuy nhiên, hiện nay, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 lại không đưa ra khái niệm tiền gửi nữa mà thay vào đó là khái niệm "nhận tiền gửi" với ý nghĩa là một trong những nghiệp vụ của hoạt động ngân hàng, theo đó: "Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận" [44, khoản 13 Điều 4]. 14 z Theo định nghĩa này, phạm vi và nguyên tắc hoàn trả tiền gửi đã được mở rộng hơn so với các định nghĩa nêu trên và phù hợp hơn với điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, cụ thể là tiền gửi còn được ghi nhận dưới hình thức chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và tiền gửi được hoàn trả theo "nguyên tắc thỏa thuận". Qua phần dẫn chiếu ở trên có thể thấy rằng ở mỗi quốc gia lại có một quan niệm khác nhau về tiền gửi, song có thể khái quát ngắn gọn khái niệm về tiền gửi như sau: Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới những hình thức được pháp luật công nhận và được hoàn trả cho khách hàng trên nguyên tắc thỏa thuận nhưng không trái với các quy định của pháp luật. Trên thực tế, các tổ chức được phép nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân trong xã hội không phải là chủ thể "giữ hộ" tài sản của người gửi tiền mà họ chính là những trung gian tài chính trong nền kinh tế, họ sử dụng khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các hoạt động đầu tư, cấp tín dụng cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng vốn trong xã hội… Điều này có nghĩa là các tổ chức được phép nhận tiền gửi sẽ có trách nhiệm phải hoàn trả cho người gửi tiền cả gốc và lãi số tiền họ đã gửi khi đáo hạn hoặc khi người gửi tiền có nhu cầu (trong những trường hợp được thỏa thuận có thể rút tiền trước hạn) mà không phụ thuộc vào việc các tổ chức này có thu được nợ từ việc cho các đối tượng khác vay hay không?