Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1. Những vấn đề chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ 1. Khái niệm người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ Theo quy định tại Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12 thì: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, gia đình, tổ chức”. Hiện nay, có hai cách hiểu khác nhau về người tiêu dùng: + Theo nghĩa rộng, người tiêu dùng ngoài mục đích mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thì còn có thể phục vụ cho mục đích tái sản xuất kinh doanh (mua sản phẩm này để chế biến, sản xuất thành sản phẩm khác, ví dụ như mua vải để may thành quần, áo và mang đi bán).
+ Theo nghĩa hẹp, người tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của mình. Như vậy, người tiêu dùng bao gồm cả người mua hàng hóa (mua lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, quần áo, thiết bị máy móc, đồ dùng sinh hoạt, phương tiện đi lại,.) và người sử dụng dịch vụ (dịch vụ bảo hiểm, vận tải, vui chơi, giải trí, khám chữa bệnh, sửa chữa, lắp đặt thiết bị,.) Trên thế giới, pháp luật mỗi quốc gia có tiêu chí xác định và định nghĩa khác nhau về người tiêu dùng (NTD). Tuy nhiên, đa số các quốc gia đều định nghĩa NTD gắn liền với mục đích sinh hoạt tiêu dùng, không bao gồm mục đích thương mại hoặc bán lại, như: Luật Bảo vệ NTD của Pháp quy định: “Người tiêu dùng được hiểu là các cá nhân trực tiếp mua hàng hóa, thụ hưởng các dịch vụ và trực tiếp tiêu thụ, không bao gồm những người mua với mục đích bán lại" [29, tr.14] Luật bảo vệ NTD Malaysia ban hành năm 1999 quy định NTD là người: (a) nhận được hàng hóa và dịch vụ để sử dụng cho mục đích cá nhân, sử dụng trong hộ gia đình, sử dụng hoặc tiêu dùng và (b) không sử dụng hàng hóa và dịch vụ hoặc dùng hàng hóa dịch vụ vào mục đích: 5 (i) cung cấp lại vì mục đích thương mại (ii) tiêu dùng chúng vào quá trình sản xuất; hoặc (iii) trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ sửa chữa hoặc xử lý, các hàng hóa và tài sản gắn liền với đất khác" [34] Như vậy, không phải mọi hành vi mua hoặc sử dụng sản phẩm, dịch vụ đều được coi là hành vi tiêu dùng. Các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thực hiện các hành vi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh hay còn gọi là hành vi thương mại đều không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD).
Tại Việt Nam, khái niệm NTD cũng nghiêng về định nghĩa theo nghĩa hẹp, tức là bao gồm (dẫn chiếu theo Điều 2 Nghị định số 69/2001/NĐ-CP ngày 02/10/2001): + Người mua là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ đã mua cho chính bản thân mình, + Người mua hàng hóa, dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử dụng, + Cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hóa, dịch vụ do người khác mua hoặc được cho, tặng. Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm (KDBH) nói chung và bảo hiểm nhân thọ (BHNT) nói riêng, chưa có một quy định pháp luật nào định nghĩa về người tiêu dùng trong lĩnh vực BHNT cả. Tuy nhiên, chúng ta có thể suy đoán ra từ khái niệm người tiêu dùng nói chung và từ bản chất, đặc điểm của BHNT trong các văn bản pháp luật có liên quan. BHNT thuộc nhóm bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại, là loại hình bảo hiểm mà người mua bảo hiểm sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (DNBHNT), theo đó DNBHNT có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thỏa thuận từ trước khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm liên quan đến tuổi thọ, tính mạng của người được bảo hiểm.
Như vậy, người tiêu dùng trong BHNT (sau đây gọi tắt là người tiêu dùng) được hiểu là một bên giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT), có thể có các tư cách chủ thể sau: - Là bên mua bảo hiểm: là cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu mua bảo hiểm, giao kết HĐBHNT với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo 6 hiểm có thể là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. Bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người sau: + Bản thân bên mua bảo hiểm + Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm + Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng + Người khác nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm - Là người được bảo hiểm: là người có tính mạng và sức khỏe là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể nhưng không nhất thiết là bên mua bảo hiểm.
Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng. Nếu người được bảo hiểm không đồng thời là bên mua bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Vì độ tuổi là cơ sở kỹ thuật rất quan trọng đối với nghiệp vụ BHNT nên pháp luật thường có yêu cầu người được bảo hiểm phải khai đúng tuổi thực của mình. - Là người thụ hưởng: là cá nhân hoặc tổ chức được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận toàn bộ hoặc một phần các quyền lợi bảo hiểm theo HĐBHNT.
Khái niệm người thụ hưởng chỉ có trong bảo hiểm con người vì trong nhiều trường hợp, đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro đồng nghĩa với người được bảo hiểm chết nên người được bảo hiểm không thể nhận tiền bảo hiểm. Pháp luật thường quy định bên mua bảo hiểm có thể chỉ định nhiều người thụ hưởng theo một trật tự ưu tiên hoặc không theo một trật tự ưu tiên nào và phải được sự đồng ý của người được bảo hiểm. Khác với người được bảo hiểm phải bắt buộc được chỉ rõ, trong HĐBHNT không nhất thiết phải chỉ định rõ người thụ hưởng. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ 1.
Khái niệm quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ Kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh dịch vụ tài chính. Do đó, người được hưởng quyền lợi bảo hiểm là người có quyền lợi cần được pháp luật bảo hộ. Pháp luật của các nước về kinh doanh bảo hiểm không có định nghĩa riêng thế nào là quyền lợi của người được bảo hiểm. Tuy nhiên, quyền lợi của người được bảo hiểm có thể được nhân diện qua suy đoán từ quyền lợi của người tiêu dùng hưởng dịch vụ của nhà kinh doanh.
Theo như tác giả đã nói ở phần trên, người tiêu dùng trong lĩnh vực BHNT có thể là bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. Vậy 7 quyền lợi của người tiêu dùng (QLNTD) trong lĩnh vực BHNT chính là quyền lợi của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. Để làm rõ QLNTD khi tham gia BHNT, ta sẽ chia theo quyền lợi gắn liền với các loại hình BHNT cơ bản: (1) Bảo hiểm trong trường hợp sống: DNBHNT cam kết chi trả những khoản tiền đều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm nếu đến một thời điểm nào đó được ấn định trong hợp đồng mà người được bảo hiểm vẫn còn sống. Trường hợp người được bảo hiểm chết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ một khoản tiền nào.
Mục đích của loại bảo hiểm này là đảm bảo thu nhập cố định sau khi về hưu hay tuổi cao sức yếu, giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cái khi tuổi già. Loại hình bảo hiểm này rất phù hợp với những người khi về hưu hoặc những người không được hưởng tiền trợ cấp hưu trí từ bảo hiểm xã hội đến độ tuổi tương ứng với tuổi về hưu đăng ký tham gia để được hưởng những khoản trợ cấp định kỳ hàng tháng. Vậy nên các DNBHNT đặt tên cho loại hình BHNT này là “bảo hiểm tiền trợ cấp hưu trí”, “bảo hiểm tiền hưu”, “niên kim nhân thọ”. (2) Bảo hiểm trong trường hợp tử vong: được chia thành 2 nhóm: (i) Bảo hiểm tử kỳ (còn được gọi là bảo hiểm tạm thời hay bảo hiểm sinh mạng có thời hạn): DNBHNT có trách nhiệm thanh toán số tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm được chỉ định nếu người được bảo hiểm tử vong trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng.
Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì người được bảo hiểm không nhận được bất kỳ một khoản hoàn phí nào từ số phí bảo hiểm đã đóng. Mục đích của loại bảo hiểm này là nhằm đảm bảo các chi phí mai táng chôn cất, bảo trợ cho gia đình và người thân trong một thời gian ngắn hay thanh toán các khoản nợ nần cho những khoản vay hoặc thế chấp của người được bảo hiểm. Bảo hiểm tử kỳ còn được đa dạng hóa thành các dạng như bảo hiểm tử kỳ cố định, bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục, bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi, bảo hiểm tử kỳ giảm dần, bảo hiểm tử kỳ tăng dần, bảo hiểm thu nhập gia đình, bảo hiểm tử kỳ có điều kiện,… [21, tr.438-441] (ii) BHNT trọn đời (bảo hiểm trường sinh): DNBHNT cam kết chi trả cho người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền bảo hiểm đã được ấn định trên hợp đồng khi người được bảo hiểm chết vào bất cứ lúc nào kể từ ngày ký hợp đồng. Mục đích của loại bảo hiểm này là nhằm đảm bảo các chi phí mai táng chôn cất, bảo đảm thu nhập để ổn định cuộc sống gia đình hay giữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp 8 kinh doanh cho thế hệ sau.