Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm, thuật ngữ dùng trong nghiên cứu 1. Khái niệm về người cao tuổi Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể [18]. Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định: Người cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”.
Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên. Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao.
Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn. Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau. Trong nghiên cứu này nhà nghiên cứu đã sử dụng khái niệm về người cao tuổi theo Luật người cao tuổi Việt Nam năm 2010 đã quy định. Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi 1.1 Đặc điểm sinh lý- Những thay đổi của cơ thể trong quá trình lão hóa.
[2],[ 12] Khi tuổi cao, sức chống đỡ và sự chịu đựng của cơ thể con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như bên trong kém đi rất nhiều. Điều đó cho thấy, đặc điểm sinh lý hay những thay đổi của cơ thể trong quá trình lão hóa ở người cao tuổi. -Những thay đổi của cơ thể trong quá trình lão hóa, trước hết đó là sự thay đổi diện mạo bề ngoài, như da nhăn, tóc bạc, lưng khòm, đi đứng chậm chạp, mọi phản ứng đều chậm… 5 - Ăn uống mất ngon vì tế bào vị giác trên lưỡi ngày một ít đi, miệng khô vì tuyến nước bọt giảm bài tiết, thiếu hụt về dinh dưỡng (nồng độ protein huyết thanh thấp, thiếu vitamin B12, acid folic). - Mất cơ và giảm đậm độ của xương.
- Tế bào thần kinh bị hủy diệt dần mà không được thay thế, lượng máu nuôi dưỡng cho não giảm, suy nghĩ chậm chạp, rối loạn, nhầm lẫn. - Hệ thống các chất trung gian dẫn truyền thần kinh thay đổi: adrenergic, Noradrenergic, dopaminnegic, serotoninergic bị giảm. - Thủy tinh thể của mắt cứng đục, võng mạc kém nhạy cảm với ánh sang, thị giác giảm khi nhìn sự vật ở gần hay trong bong tối. - Tai nghe nghễnh ngãng, khó bắt được các âm thanh có tần số cao, kể cả tiếng nói bình thường.
- Khứu giác kém, mũi khó phân biệt và tiếp nhận được mùi của thực phẩm, hóa chất. - Nhịp tim chậm, lưu lượng máu qua tim giảm, cơ tim xơ cứng, dễ bị suy tim, dễ bị ngất xỉu. Người già dễ bị các bệnh lý tim mạch. - Hơi thở ngắn, nhanh, dễ bị khó thở do lượng dưỡng khí trong máu giảm, dễ mệt khi làm việc chân tay.
- Gan teo, thể tích gan nhỏ, lượng máu qua gan giảm, giảm hoạt động các men oxy hóa, chức năng thanh lọc độc chất kẽm hữu hiệu. Do đó thuốc chuyển hóa qua gan chậm, tăng thời gian bán hủy các thuốc. - Thận nhỏ lại, máu đi qua thận giảm, tốc độ lọc cầu thận giảm, khả năng bài tiết kém, bang quang co bóp yếu, gây chứng khó tiểu và tiểu tiện không tự chủ, tuyến tiền liệt xơ hóa, gây bí tiểu,…Do đó, dẫn tới tăng nồng độ thuốc thải trừ qua thận - Lớp mỡ dưới da teo, tuyến mồ hôi và tuyến nhờn kém hoạt động, gây da khô, nhăn nheo, dễ bị tổn thương, ít chịu đựng được, giảm thể tích nước và khối lượng cơ thể nhỏ, nồng độ albumin huyết thanh thấp,…Do đó, sẽ làm tăng thời gian 6 bán hủy, tăng nồng độ các thuốc tan trong nước, trong rượu, tăng nồng độ trong huyết thanh của các thuốc gắn với protein - Hệ thống miễn dịch yếu, sự sản xuất kháng thể bị trì trệ, cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn, bệnh tật dễ trầm trọng hơn. - Đời sống tình dục suy giảm.
Từ những cơ sở sinh lý về sự thay đổi của cơ thể người cao tuổi, ở độ tuổi này cần lưu ý hai điểm: + Người cao tuổi dễ bị mắc bệnh. Do quá trình lão hóa, nên sức đề kháng của cơ thể người cao tuổi giảm đối với các yếu tố gây bệnh. Ngoài các bệnh mạn tính từ các giai đoạn trước đó để lại, người cao tuổi còn mắc thêm các bệnh khác như cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, đái tháo đường, tai biến mạch máu não, các bệnh về xương khớp, bệnh phổi…Hậu quả của bệnh tật đã làm thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc tâm lý và nhân cách của người cao tuổi + Dược động học các thuốc, đặc biệt là thuốc hướng thần ở người cao tuổi có sự khác biệt so với người trẻ, cần chú ý các biến chứng có thể xảy ra như ngã do buồn ngủ, hạ huyết áp, hội chứng parkinson do sử dụng thuốc chống loạn thần [68]. Quá trình lão hóa đã chứng minh cho đặc điểm sinh lý và những thay đổi cơ thể người cao tuổi, được coi như qui luật tất yếu về sự phát triển của người 1.2 Đặc điểm tâm lý người cao tuổi- Những biểu hiện của biến đổi tâm lý trong quá trình lão hóa.
[2],[ 12] Những biểu hiện tâm lý liên quan đến quá trình lão hóa - Sự chậm chạp về tâm lý vận động: một động tác nhưng mất nhiều thời gian, sự lẫn lộn về thời gian, rối loạn trí nhớ: khó khăn trong việc tái hiện, có thể nhớ được khi có sự gợi ý, có khi lú lẫn, do liên quan đến sự suy giảm ý thức và tập trung chú ý. - Về tư duy: suy nghĩ chậm chạp, liên tưởng chậm, ý tưởng tự ti, tự cho mình là thấp kém, nặng hơn có thể hoang tưởng bị tội, bị hại, nghi bệnh… - Về tri giác: giảm tốc độ xử lý thông tin, có sự suy giảm về tri giác giác quan nên nhận thông tin chậm 7 - Khó tập trung chú ý hoặc chú ý giảm.Những biến đổi tâm lý nặng có thể lo âu, trầm cảm. Người cao tuổi thường cảm thấy buồn phiền, chán nản, bi quan, mất hứng thú với những ham thích trước đây, mất niềm tin vào tương lai, giảm thị lực, giảm tập trung, rối loạn giấc ngủ, ăn không ngon miệng. Như vậy, trong quá trình lão hóa, cùng với những thay đổi chức năng sinh lý các hệ thống cơ quan trong cơ thể, các nghiên cứu cũng nhận thấy có những biến đổi về tâm lý ở người cao tuổi.
Có thể nói, đây là giai đoạn có nhiều biến đổi tâm lý đặc biệt ở người cao tuổi và các rối loạn tâm lý đó có liên quan trước hết đến các stress của việc thích nghi với hoàn cảnh sống mới, khi phải chuyển từ giai đoạn tích cực đến giai đoạn nghỉ hưu. Bởi vậy, sau khi nghỉ hưu những người cao tuổi phải trải qua hàng loạt các biến đổi tâm lý quan trọng do thay đổi nếp sinh hoạt, cũng như sự thu hẹp các mối quan hệ xã hội. Lúc này, ở họ xuất hiện tình trạng khó thích nghi với giai đoạn nghỉ hưu, và dễ mắc hội chứng về hưu, với tâm trạng buồn chán, mặc cảm, thiếu tự tin, dễ nổi giận, cáu gắt. Do đó, họ trở nên sống cô độc và cách ly xã hội.
Theo các nghiên cứu khác nhau năm 2004 [39] cho thấy có tới 40-50% người cao tuổi có rối loạn tâm thần phải nhập viện điều trị, 70% người cao tuổi phải nằm trong các nhà điều dưỡng. Các rối loạn tâm thần quan trọng nhất ở người cao tuổi là lo âu (5,5%), trầm cảm (10-15%) và sa sút trí tuệ (4%). Rối loạn trầm cảm thường gặp trong cộng đồng 1. Khái niệm, đặc điểm lâm sàng về trầm cảm 1.1 Khái niệm về trầm cảm Buồn chán là một phản ứng cảm xúc thường gặp ở bất cứ ai trong cuộc sống.
Khi các biểu hiện trở nên trầm trọng, kéo dài, cản trở đến chất lượng cuộc sống và khả năng thích ứng của họ, thì được gọi là rối loạn trầm cảm (TC) [20],[ 42]. TC có nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh phức tạp, biểu hiện lâm sàng không chỉ bằng các triệu chứng đặc trưng về tâm thần là giảm khí sắc mà còn kèm theo nhiều triệu chứng về cơ thể nên bệnh nhân TC thường đến với các chuyên khoa khác và dễ bị bỏ sót chẩn đoán. TC thường kèm các rối loạn trầm cảm (RLTT) khác như lo âu 8 [63]. Theo mô tả kinh điển trầm cảm điển hình được biểu hiện bằng sự ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần, bao gồm: cảm xúc bị ức chế, tư duy bị ức chế, vận động bị ức chế [5],[ 7] Theo Bùi Quang Huy (2008) Trầm cảm là một bệnh rối loạn cảm xúc biểu hiện ở khí sắc trầm tức là có trạng thái cảm xúc buồn rầu, chán trường, u uất, kéo dài ít nhất hai tuần lễ hay lâu hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc cũng như cuộc sống thường ngày.
Người bị trầm cảm cảm thấy mất hứng thú đối với những công việc đã từng mang lại niềm vui thích cho bản thân, cảm thấy tuyệt vọng, có tội lỗi, cảm thấy bi quan, vô tích sự, thiếu tự chủ và đặc biệt là làm cho con người cảm thấy cuộc sống như không đáng sống. Trầm cảm có thể xảy ra với bất kỳ ai, bất kỳ độ tuổi nào, ở mỗi đối tượng khác nhau sẽ có biểu hiện khác nhau [13],[ 71] 1.2 Đặc điểm lâm sàng về trầm cảm Khí sắc trầm cảm : Thường gặp là buồn rầu uể oải, chân tay rã rời, cảm giác khó chịu, bất an, đuối sức trước cuộc sống, cảm thấy đau khổ, nét mặt ủ rũ, mệt mỏi, bệnh nhân (BN) thấy quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một màu đen tối, ảm đạm, đôi khi khó tả được cảm giác của mình, cảm thấy mình bị thất bại, hỏng việc, bất lực, tự đánh giá bản thân thấp kém, không có khả năng, là ngõ cụt. Tất cả những mặc cảm này cùng với hiện tại bị bao phủ bởi nỗi buồn không giải thích được, một sự đau khổ vô biên có thể dẫn tới hội chứng Cotard, và có nguy cơ dẫn tới hành vi tự sát [73].