Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm 1. Suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng ít nhiều có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ [3].
Phân loại suy dinh dưỡng 1. Phân loại theo lâm sàng Thể lâm sàng điển hình: Marasmus, Kwashiorkor và phối hợp Marasmus- Kwashiorkor + Thể Marasmus: Hay gặp, là hậu quả của chế độ ăn thiếu năng lượng và protein do trẻ cai sữa quá sớm hoặc chế độ ăn không hợp lý. + Thể Kwashikor: Hiện nay ít gặp hơn, do chế độ ăn quá nghèo protid mà glucid tạm đủ. + Thể phối hợp Marasmus-Kwashiorkor [4].
So sánh triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng thể Maramus và Kwashiokor Nội dung Marasmus Kwashiorkor 1. Các biểu hiện thường gặp Cơ teo đét Không rõ ràng Có thể không rõ do phù Phù Không có Phù ở chi dưới và mặt Thấp, có thể không thấp do Cân nặng/chiều cao Rất thấp phù Biến đổi tâm lý Đôi khi lặng lẽ, mệt mỏi Quấy khóc, mệt mỏi c 4 2. Các biểu hiện có thể gặp Ngon miệng Có thể kém ngon miệng Kém ngon miệng Ỉa chảy Thường gặp Thường gặp Biến đổi ở da Ít gặp Viêm Biến đổi ở tóc Ít gặp Tóc thưa, mỏng Gan to Không Đôi khi, do tích lũy mỡ Albumin huyết thanh Bình thường hoặc hơi thấp Biến đổi Thể suy dinh dưỡng nhẹ và trung bình thường gặp ở cộng đồng, trẻ có biểu hiện chậm lớn, trẻ biếng ăn, biểu hiện về cân nặng và teo cơ bắp khó nhận thấy. Trẻ có thể hay bị viêm đường hô hấp trên và ỉa chảy, hay mắc đi mắc lại.
Cách phân loại của Tổ chức y tế thế giới WHO khuyến nghị, coi là thiếu dinh dưỡng thể cân nặng/tuổi khi cân nặng < -2SD so với quần thể tham khảo (NCHS: National Centre Health Statistics). Có thể chia mức độ SDD theo độ: Suy dinh dưỡng độ I: cân nặng nhỏ hơn -2SD đến -3SD Suy dinh dưỡng độ II: cân nặng nhỏ hơn -3SD đến -4SD Suy dinh dưỡng độ III: cân nặng nhỏ hơn -4SD - Năm 2006 WHO khuyến nghị sử dụng Chuẩn tăng trưởng mới để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi. Phân loại suy dinh dưỡng Cân nặng/chiều Thể SDD Cân nặng/tuổi Chiều cao/tuổi cao Thể còm Thấp Bình thường Thấp Thể còi Thấp Thấp Bình thường Thể còm – còi Thấp Thấp Thấp c 5 - Cân nặng/tuổi: Cân nặng theo tuổi phản ánh tình trạng nhẹ cân, là chỉ số đánh giá suy dinh dưỡng thông dụng từ năm 1950. Chỉ số này được dùng để đánh giá suy dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng.
Nhẹ cân chỉ là một đặc tính chung của suy dinh dưỡng, nhưng không cho biết đặc điểm cụ thể, đó là loại suy dinh dưỡng mới xảy ra hay đã tích luỹ từ lâu. Chỉ số này nhạy cảm và có thể quan sát nó trong một thời gian ngắn, tuy vậy chỉ số này không nhạy đối với trẻ em bị còi thấp, vì với những trẻ này có thể phát triển cân nặng thấp nhưng chỉ song song với phía dưới của đường phát triển bình thường, hoặc có những trẻ quá cao, nên cân nặng theo tuổi có thể bình thường, nhưng thực ra trẻ bị suy dinh dưỡng. Chỉ số này liên quan đến tuổi và đó cũng là vấn đề khó khăn khi thu thập số liệu để tính toán, đặc biệt ở những nơi có trình độ dân trí thấp, bà mẹ đông con, những nơi các bà mẹ nhớ ngày sinh tháng đẻ của trẻ theo cách riêng của họ. Thì đây quả là một vấn đề hết sức khó khăn.
Tuy nhiên, theo dõi cân nặng là việc tương đối dễ thực hiện ở cộng đồng hơn cả, do đó tỷ lệ thiếu cân theo tuổi được sử dụng rộng rãi để tính tỷ lệ chung của suy dinh dưỡng. - Chiều cao/tuổi: Chiều cao/tuổi thấp được gọi là thấp còi (stunting), biểu hiện suy dinh dưỡng trong quá khứ. Thấp còi được xem là hậu quả của tình trạng thiếu ăn hoặc mắc các bệnh nhiễm khuẩn tái diễn. Đồng thời, nó cũng phản ánh đó là hậu quả của vệ sinh môi trường kém và suy dinh dưỡng sớm.
Chỉ số này được dùng để đánh giá suy dinh dưỡng trong quá khứ với các trang thiết bị rẻ tiền và dễ vận chuyển. Tuy nhiên, chỉ số này không nhạy, vì sự phát triển chiều cao là từ từ. Như vậy, khi thấy trẻ có chiều cao thấp thì đã muộn. Tỷ lệ trẻ em thấp còi được xem là chỉ số đánh giá tình trạng đói nghèo.
Đây là chỉ tiêu tốt để đánh giá sự cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội. Thông thường ở các nước đang phát triển, tỷ lệ thấp còi tăng nhanh sau 3 tháng tuổi, đến 3 tuổi tỷ lệ này ổn định, sau đó chiều cao trung bình đi song song với chiều cao tương ứng ở các quần thể tham khảo. c 6 - Cân nặng/chiều cao: Cân nặng theo chiều cao thấp được gọi là suy dinh dưỡng thể gầy còm (wasting), là chỉ số đánh giá suy dinh dưỡng hiện tại, hay nói cách khác nó biểu hiện suy dinh dưỡng cấp tính, do vậy cần phải ưu tiên can thiệp. Cân nặng/chiều cao thấp, chính là thiếu hụt cơ thể (khối nạc, khối mỡ, xương) khi so sánh tổng số cần có của đứa trẻ có cùng chiều cao (hay chiều dài).
Cân nặng theo chiều cao thấp, phản ánh sự không tăng cân hay mất cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiều cao. Nó còn phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này. Tỷ lệ cân nặng/chiều cao thấp thường xuất hiện nhiều ở trẻ 12 - 24 tháng tuổi, do đây là thời kỳ trẻ hay mắc bệnh và thiếu ăn do thiếu chăm sóc. Suy dinh dưỡng cấp tính tiến triển rất nhanh ở trẻ em bị sụt cân hoặc không tăng cân.
Chỉ số cân nặng/chiều cao có ưu điểm là không cần biết tuổi của trẻ, vì vậy có thể tránh được một dữ liệu (tính tuổi) đôi khi rất khó thu thập hoặc không chính xác. Đồng thời chỉ số này còn có một ưu điểm là không phụ thuộc vào yếu tố dân tộc, vì trẻ dưới 5 tuổi cơ thể phát triển như nhau trên toàn cầu. Hậu quả của suy dinh dưỡng đối với sức khỏe Ước tính riêng trong năm 1995 có 11,6 triệu trường hợp trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị tử vong vì tất cả các nguyên nhân khác nhau thì có 6,3 triệu trường hợp (chiếm 54%) bị suy dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi, khả năng học hành của trẻ, khả năng lao động đến tuổi trưởng thành.
Suy dinh dưỡng trẻ em thường để lại hậu quả nặng nề. Suy dinh dưỡng thấp còi là hậu quả của một quá trình tích lũy bắt đâu xảy ra ngay trong thời kỳ bào thai và tiếp tục cho đến 3 tháng sau khi sinh ra. Cân nặng sơ sinh thấp là một chỉ điểm quan trọng của dinh dưỡng bào thai và tiên lượng cho sự phát triển và sức khỏe của trẻ. Gần đây, nhiều bằng chứng cho thấy suy dinh dưỡng ở giai đoạn c 7 sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người.
Hậu quả của suy dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ, phụ nữ đã từng bị suy dinh dưỡng trong thời kỳ còn trẻ là trẻ nhỏ hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên trở thành bà mẹ bị suy dinh dưỡng. Bà mẹ bị suy dinh dưỡng thường dễ đẻ con nhỏ yếu, cân nặng sơ sinh thấp. Hầu hết những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp bị suy dinh dưỡng (nhẹ cân hoặc thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh. Những trẻ này có nguy cơ tử vong cao hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường [32].
Tác giả Baker nêu ra một thuyết mới về nguồn gốc bào thai của một số bệnh mạn tính. Theo ông, các bệnh tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa ở người trưởng thành có thể có nguồn gốc từ suy dinh dưỡng bào thai. Chính vì thế, phòng chống suy dinh dưỡng bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi ra đời có một ý nghĩa rất quan trọng trong dinh dưỡng theo chu kì vòng đời [51]. Chính vì thế, phòng chống suy dinh dưỡng bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi ra đời, có ý nghĩa quan trọng trong dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời.
Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới Suy dinh dưỡng khá phổ biến ở trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Theo UNICEF (2006), hơn 1/4 trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị thiếu cân và cuộc sống đang bị đe dọa. Dinh dưỡng không đầy đủ vẫn là đại dịch toàn cầu dẫn đến một nửa số ca tử vong là trẻ em, khoảng 5,6 triệu trẻ em mỗi năm.
So với năm 1990, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thiếu cân chỉ giảm nhẹ, đây là bằng chứng cho thấy thế giới đã không làm tròn nhiệm vụ với trẻ em [64]. Mặc dù đã có tiến bộ ở một số quốc gia, trong 15 năm vừa qua các c 8 quốc gia đang phát triển trung bình mới chỉ giảm được 1,5% trẻ em thiếu cân; 27% trẻ em ở các nước đang phát triển bị thiếu cân trên toàn thế giới đang sống ở 10 quốc gia và hơn một nửa số đó sống ở 3 nước: Bănglađét, Ấn Độ, Pakixtan [65]. Theo báo cáo về tình hình an ninh lương thực thế giới năm 2010, FAO đã nhận định rằng số ca SDD toàn cầu tuy có giảm sau 15 năm nhưng vẫn còn ở mức cao. Do đó, tình trạng này sẽ khó có khả năng đạt được “mục tiêu phát triển thiên niên kỷ thứ nhất’’ vào năm 2015 [54].
Theo số liệu thống kê năm 2013, trên thế giới có tới 165 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể nhẹ cân, trong đó 10% bị SDD nặng và có khoảng 195 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi, trong đó 90% trẻ em sống ở khu vực châu Phi và châu Á. Có tới 24 quốc gia có số lượng lớn trẻ bị SDD thấp còi vừa và nặng (chiếm 80% tổng số 195 triệu trẻ thấp còi) [66]. Suy dinh dưỡng cấp tính vẫn đang là “kẻ giết người” chính của trẻ em dưới 5 tuổi [52]. Suy dinh dưỡng có liên quan mật thiết đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ em.