ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay điều kiện kinh tế xã hội phát triển, chất lƣợng cuộc sống đƣợc cải thiện, nhu cầu sinh hoạt và mức sống của ngƣời dân đƣợc nâng cao. Chính vì vậy tình trạng suy dinh dƣỡng đã đƣợc khống chế và đẩy lùi, bên cạnh đó tình trạng thừa cân béo phì trong xã hội ngày càng gia tăng ở mọi lứa tuổi [6]. Thừa cân béo phì ngày nay không còn là căn bệnh của các nƣớc giàu mà đã trở thành vấn nạn chung của toàn cầu vì thừa cân béo phì là mối nguy cơ lớn đối với sức khoẻ của con ngƣời. Năm 2000, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã báo động đến các quốc gia về sự phát triển dịch đầu tiên không nhiễm khuẩn: Đó là bệnh béo phì [68].
Bệnh béo phì ở trẻ em có thể gây ra nhiều tác hại ảnh hƣởng đến trẻ nhƣ: ảnh hƣởng đến tâm sinh lý và trí năng của trẻ khi trẻ béo phì. Ngoài ra khi tình trạng béo phì kéo dài sẽ gây ảnh hƣởng đến sức khỏe khi trẻ trƣởng thành nhƣ: thừa cân béo phì khi trƣởng thành, rối loạn lipid máu, đái tháo thƣờng, tim mạch và các bệnh về xƣơng khớp. Tại Việt Nam theo kết quả của cuộc Tổng điều tra của Viện dinh dƣỡng năm 2012 thì tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em dƣới 5 tuổi là 5,6% (ở thành phố 6,5% và ở nông thôn 4,2 %), tỷ lệ này đang có xu hƣớng gia tăng. So với năm 2000, tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ dƣới 5 tuổi hiện cao hơn 6 lần [45].
Ngày 22 tháng 02 năm 2012, Thủ Tƣớng Chính Phủ đã ra Quyết Định “Phê duyệt chiến lƣợc quốc gia về dinh dƣỡng giai doạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, trong đó có đƣa ra chỉ tiêu: Khống chế tỷ lệ béo phì ở trẻ em < 5 tuổi ở mức dƣới 5% ở nông thôn và dƣới 10% ở thành phố lớn vào năm 2015 và tiếp tục duy trì đến năm 2020 [4]. Hiện nay tình hình thừa cân béo phì trên toàn quốc đang có xu hƣớng gia tăng nhất là các đô thị lớn nhƣ Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Huế,… Song hành với tình trạng gia tăng về thừa cân béo phì đã làm gia tăng các bệnh tiểu đƣờng, cao huyết áp, rối loạn lipid máu, bệnh về xƣơng khớp và các bệnh tim mạch khác [10], [37]. Chính vì vậy cũng đã có những nghiên cứu về các yếu tố liên quan và các vấn đề ảnh hƣởng đến sức khoẻ do thừa cân - béo phì nhƣng các nghiên cứu trên chỉ tập trung tại các thành phố lớn.
Tại Sóc Trăng chƣa có nhiều kết quả nghiên cứu về tình hình thừa cân - béo phì ở lứa tuổi tiền học đƣờng và học đƣờng, chỉ dựa vào thông tin giám sát dinh 2 dƣỡng ở trẻ em dƣới 5 tuổi (do Viện dinh dƣỡng điều tra theo cụm) [46]. Tuy nhiên Sóc Trăng cũng là một địa phƣơng đang có nhiều thay đổi nhanh về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đặc biệt là khu vực thành phố Sóc Trăng, nên ngày càng phát sinh nhiều yếu tố nguy cơ do vấn đề đô thị hoá, ăn uống quá mức, ít vận động thể lực, quan niệm của cha mẹ và giáo viên về thừa cân – béo phì ở đối tƣợng học sinh tiểu học chƣa có nhiều quan tâm (sợ con bị suy dinh dƣỡng nên cứ ép ăn hay theo cách suy nghĩ là con mập mạp là có sức khoẻ) và theo khảo sát nhanh thì tỷ lệ thừa cân béo phì tập trung nhiều ở thành phố Sóc Trăng mà phần lớn là học sinh tiểu học. Chính vì vậy tỷ lệ thừa cân - béo phì ở lứa tuổi học đƣờng đang có xu hƣớng gia tăng, nên tôi quyết định tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở học sinh một số trường tiểu học tại thành phố Sóc Trăng năm 2015”. 3 Mục tiêu nghiên cứu: 1.
Xác định tỷ lệ thừa cân béo phì ở học sinh một số trƣờng tiểu học tại thành phố Sóc Trăng, năm 2015. Phân tích một số yếu tố liên quan đến thừa cân béo phì ở học sinh một số trƣờng tiểu học tại thành phố Sóc Trăng, năm 2015. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm và phƣơng pháp đánh giá TC-BP 1.1 Một số khái niệm: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) - Thừa cân là tình trạng cân nặng vƣợt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. - Béo phì là tình trạng tích tụ mỡ cao hoặc bất thƣờng trong cơ thể có khả năng gây ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe [67].
- Chỉ số khối cơ thể (BMI: Body Mass Index) là một chỉ số đánh giá cân nặng theo chiều cao, thƣờng đƣợc sử dụng để phân loại thừa cân và béo phì ở ngƣời lớn. Nó đƣợc định nghĩa là trọng lƣợng của một ngƣời (tính bằng kg) chia cho bình phƣơng chiều cao của ngƣời đó (tính bằng mét). Theo Tổ chức Y tế thế giới, đánh giá tình trạng thừa cân béo phì của trẻ 5 – 19 tuổi dựa vào chỉ số Z-Score (WHO-2007) [66]. Phƣơng pháp đánh giá TC-BP: Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng là một nội dung kỹ thuật quan trọng hàng đầu của dinh dƣỡng học.
Tình trạng dinh dƣỡng ngƣời có thể đƣợc đánh giá thông qua các biểu hiện lâm sàng đặc hiệu, các chỉ số sinh hóa và các số đo nhân trắc dinh dƣỡng. Cho đến nay số đo nhân trắc dinh dƣỡng đƣợc xem là nhạy, khách quan và có ý nghĩa ứng dụng rộng rãi trong việc đánh giá tình trạng dinh dƣỡng của một cá thể hay của cộng đồng [47]. Đánh giá tình trạng TC-BP của trẻ : Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 1995 xác định thừa cân béo phì đƣợc chia làm 2 nhóm tuổi: - Xác định thừa cân béo phì ở trẻ dƣới 9 tuổi: tình trạng thừa cân béo phì của trẻ đƣợc tính theo chỉ số cân năng/chiều cao (CN/CC) nếu vƣợt quá +2SD là thừa cân, nếu vƣợt quá +3SD là béo phì. Đây là chỉ số tốt để đánh giá quần thể, tuy nhiên nếu đánh giá cho cá nhân, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên sử dụng thêm biện 5 pháp đo dự trữ mỡ hay đo lớp mỡ dƣới da ở hai vị trí cơ tam đầu và dƣới xƣơng bả vai để tăng độ chính xác.
Ngoài ra cũng có thể sử dụng biểu đồ tăng trƣởng theo tuổi và giới để theo dõi và đánh giá tình trạng dinh dƣỡng - Xác định thừa cân béo phì ở trẻ vị thành niên 10-19 tuổi: Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị áp dụng BMI theo tuổi và giới và đánh giá theo percentile (bách phân vị) để xác định tình trạng thừa cân béo phì ở nhóm tuổi này. Tính theo bách phân vị, trẻ thừa cân khi BMI ≥ 85 percentile, và béo phì khi BMI ≥ 95 percentile, hoặc BMI ≥ 85 percentile cộng với bề dày lớp mỡ dƣới da ở 2 vị trí cơ tam đầu và dƣới xƣơng bả vai ≥ 90 percentile [25]. Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2007, tình trạng thừa cân béo phì của trẻ 5 – 19 tuổi đƣợc đánh giá theo chỉ số Z-Score (BMI theo tuổi và giới) [47], cụ thể: - Z-Score của BMI < -3SD: Suy dinh dƣỡng mức độ nặng - -3SD ≤ Z-Score của BMI < -2SD: Suy dinh dƣỡng mức độ vừa - -2SD ≤ Z-Score của BMI ≤ +1SD: Binh thƣờng - +1SD < Z-Score của BMI ≤ +2SD: Thừa cân - Z-Score của BMI > +2SD: Béo phì Hiện Nay Viện Dinh Dƣỡng Việt Nam cũng áp dụng phƣơng pháp đánh giá tình trạng thừa cân béo phì của trẻ 5 – 19 tuổi theo chỉ số Z-Score (BMI theo tuổi và giới) theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới năm 2007 [47]. Kỹ thuật đo nhân trắc: Cân trẻ: cho trẻ mặc quần áo gọn nhất và không đi giày dép.
Ngƣời đƣợc cân đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lƣợng bổ đều cả hai chân. Cân đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí cân bằng ở số 0. Khi cân đƣợc 10 trẻ phải kiểm tra cân hai lần bằng cách dùng quả cân chuẩn (hoặc vật tƣơng đƣơng, ví dụ một can nƣớc) để kiểm soát độ chính xác, độ nhạy của cân. Cân nặng đƣợc ghi với 1 số lẻ, ví dụ: 11,2kg.
Đo chiều cao đứng: Bỏ guốc dép, đi chân không, đứng quay lƣng vào thƣớc đo. Lƣu ý để thƣớc đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt đất nằm ngang. Gót chân, bắp chân, mông, bả vai và chẩm theo một đƣờng thẳng áp sát vào thƣớc đo đứng, mắt nhìn thẳng ra phía trƣớc theo đƣờng thẳng nằm ngang, hai tay bỏ 6 thõng theo hai bên mình. Dùng thƣớc vuông hoặc gỗ áp sát đỉnh đầu thẳng góc với thƣớc đo.
Đọc kết quả và ghi số centimet với 1 số lẻ, ví dụ: 125,9cm [42], [44]. Phân loại béo phì.1 Phân loại béo phì theo hình thái mô mỡ - Béo phì quá sản: thƣờng gặp ở trẻ em, các tế bào mỡ tăng cả về số lƣợng và kích thƣớc. Béo phì loại này thƣờng gặp, khó điều trị và sớm phát triển những bất thƣờng trong cuộc sống. - Béo phì phì đại: thƣờng gặp ở ngƣời trƣởng thành, các tế bào mỡ to bất thƣờng, trong khi đó tế bào mỡ không tăng hoặc chỉ tăng khi đã phình to hết mức.
Béo phì loại này có thể đáp ứng tốt với điều trị [30].2 Phân loại béo phì theo vị trí phân bố mỡ - Báo bụng: là dạng béo phì mà mỡ tập trung chủ yếu ở vùng bụng. Thƣờng gặp ở đàn ông do ngồi nhiều, ít hoạt động, trọng lƣợng dồn ở phần trên cơ thể tạo nên hình dạng béo phì hình “quả táo”. - Béo đùi: là dạng béo phì mà mỡ tập trung chủ yếu ở vùng mông và đùi. Thƣờng gặp ở phụ nữ do đẻ nhiều, khung chậu rộng, trọng lƣợng dồn ở phần dƣới cơ thể tạo nên hình dạng béo phì hình “quả lê”.
- Béo đều: Mỡ phân bố toàn thân. Thƣờng gặp ở trẻ em do tế bào mỡ bội tăng [30]. Đặc điểm tăng trƣởng của học sinh tiểu học. Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển, vì vậy tăng trƣởng là một đặc điểm sinh học của trẻ em.
Tăng trƣởng là một khái niệm bao gồm quá trình lớn và phát triển. Có 2 loại tăng trƣởng: tăng trƣởng về thể chất và tăng trƣởng về chức năng. Hai quá trình này có liên quan mật thiết với nhau. Nhóm các chỉ tiêu nhân trắc là một trong ba nhóm đánh giá chỉ tiêu tăng trƣởng (chỉ tiêu nhân trắc, đánh giá tuổi xƣơng và tuổi dậy thì) [2].