Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm, thuật ngữ *Tai nạn giao thông đường bộ Hiện nay, Nghị định số 97/2016/NĐ-CP, ngày 1/7/2016 đã quy định: “Tai nạn giao thông là sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng (gọi là mạng lưới giao thông: Đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không), nhưng do chủ quan, vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, đã gây ra những thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản. *Mũ bảo hiểm cho người đi mô tô và xe máy Mũ bảo hiểm cho người đi mô, xe máy: Mũ dùng cho người đi mô tô, xe máy có đặc tính kỹ thuật phù hợp với quy định theo mục 2 của Quy chuẩn Việt Nam QCVN 2: 2008/BKHCN (9). *Phân loại MBH Theo vùng che phủ, mũ được chia thành ba loại sau: - Mũ che nửa đầu: Mũ có kết cấu bảo vệ phần đầu phía trên của người đội mũ 5 - Mũ che cả đầu và tai: Mũ có kết cấu bảo vệ phần phía trên của đầu, vùng chẩm và vùng tai của người đội mũ; - Mũ che cả đầu, tai và hàm: Mũ có kết cấu bảo vệ phần phía trên của đầu, vùng chẩm, vùng tai và cằm của người đội mũ.
6 Các loại mũ có thể có kính che hoặc không có kính che. Theo chu vi vòng đầu, mũ được chia thành ba nhóm cỡ sau: - Nhóm cỡ nhỏ: Mũ có chu vi vòng đầu nhỏ hơn 500 mm; - Nhóm cỡ trung: Mũ có chu vi vòng đầu từ 500 mm đến nhỏ hơn 520 mm; - Nhóm cỡ lớn: Mũ có chu vi vòng đầu từ 520 mm trở lên. *Mũ bảo hiểm đạt chuẩn - Cấu tạo cơ bản của mũ phải có các bộ phận sau: vỏ mũ, lớp đệm hấp thụ xung động bên trong vỏ mũ (đệm bảo vệ), quai đeo. - Đạt các yêu cầu kỹ thuật được quy định trong mục 2 của Quy chuẩn Việt Nam QCVN 2: 2008/BKHCN (9) bao gồm tiêu chuẩn kỹ thuật và kiểm định các mục sau: Vật liệu sản xuất MBH Khối lượng Quy định về bề mặt mũ, đinh tán, đinh nối.
Thiết kế vỏ mũ và lớp đệm hấp thụ xung động Thử nghiệm độ hấp thụ xung động Thử nghiệm độ bền đâm xuyên Quai đeo Độ ổn định Kết cấu của mũ bảo hiểm đảm bảo tầm nhìn Kính chắn gió (nếu có) - Được công bố và chứng nhận từ nhà sản xuất phù hợp với Quy chuẩn Việt Nam năm 2008, gắn tem chứng nhận và ghi nhãn hàng hóa theo quy định. *Xe mô tô, xe máy, xe gắn máy Xe mô tô (hay còn gọi là xe máy) là xe cơ giới hai hoặc ba bánh và các loại xe tương tự, di chuyển bằng động cơ, có dung tích xi-lanh từ 50cm3 trở lên, tải trọng bản thân xe không quá 400 kg đối với xe máy hai bánh hoặc khối lượng chuyên trở cho phép xác định theo giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật (ATKT) và bảo vệ môi trường (BVMT) phương tiện giao thông cơ giới đường bộ từ 350 kg đến 500 kg đối với xe máy ba bánh. Khái niệm này không bao gồm xe gắn máy (8). 7 Xe gắn máy là chỉ phương tiện chạy bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h.
Nếu dẫn động là động cơ nhiệt thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương không được lớn hơn 50 cm3 (8). Tổng quan về mũ bảo hiểm 1. Cơ chế bảo vệ và cấu tạo của MBH Mục đích chính của mũ bảo hiểm xe máy là để bảo vệ đầu của người sử dụng khỏi những chấn thương. Mũ bảo hiểm hiện nay bảo vệ đầu khỏi va đập bằng cách có một lớp vỏ bên ngoài được liên kết với một lớp lót hấp thụ va chạm (28).
Mục đích của lớp vỏ bên ngoài là để mở rộng vùng va chạm và cho phép mũ bảo hiểm trượt dọc theo mặt đất. Bốn thành phần chính của mũ bảo hiểm xe máy là lớp vỏ bên ngoài, lớp lót xốp hấp thụ xung động, lớp đệm giúp đội thoải mái và quai đeo. Vỏ ngoài là phần mà chúng ta nhìn thấy đầu tiên và thường được làm từ một số dạng vật liệu tổng hợp gia cố bằng sợi hoặc nhựa nhiệt dẻo như polycarbonate. Vật liệu này rất cứng và có mục đích nén lại khi nó va chạm vào bất kỳ vật cứng nào.
Điều này sẽ phân tán năng lượng từ va chạm và giảm lực trước khi nó có thể tiếp cận đầu của người sử dụng. Mũ bảo hiểm đắt tiền hơn được gia cố bằng sợi Kevlar hoặc sợi carbon. Mũ bảo hiểm làm bằng nhựa nhiệt dẻo nói chung là loại nhẹ nhất và rẻ nhất. Mũ bảo hiểm nhựa nhiệt dẻo có xu hướng có tuổi thọ ngắn hơn.
Thành phần hóa học của nó có thể bị thay đổi nếu nó được sơn hoặc dán đề can lên bề mặt của nó. Hư hỏng có thể xảy ra nếu nó được cất giữ gần xăng dầu, dung dịch tẩy rửa hoặc khói thải. Các nhà sản xuất mũ bảo hiểm không ngừng làm việc để phát triển các vật liệu rẻ hơn, chắc chắn hơn và nhẹ hơn để chế tạo vỏ mũ bảo hiểm.(29) Lớp lót hấp thụ xung động được đặt bên trong lớp vỏ bên ngoài và thường được làm bằng polystyrene giãn nở. Lớp lót cung cấp tác dụng đệm và hấp thụ xung động trong trường hợp tai nạn, do đó có thể bảo vệ đầu của người sử dụng khỏi nguy hiểm.
Cả vỏ và lớp lót đều sẽ nén lại nếu bị va đập mạnh, phân tán lực tác động ra toàn bộ mũ bảo hiểm. Nói chung, năng lượng va chạm càng bị lệch thì nó càng ít có thể gây ảnh hưởng tới đầu và gây ra thiệt hại nghiêm trọng. Một số vỏ mũ bảo hiểm 8 được thiết kế để tách lớp trong trường hợp va đập, và một số khác sẽ nứt hoặc vỡ nếu bị va đập mạnh và do đó hấp thụ chấn động của va chạm. (29) Lớp đệm êm ái chịu trách nhiệm về sự vừa vặn và thoải mái được làm bằng bọt mềm, xốp mềm.
Ở một số mũ bảo hiểm, lớp đệm êm ái có thể được lấy ra để vệ sinh. (29) Quai đeo có tác dụng giữ mũ bảo hiểm trên đầu trong trường hợp va đập và điều này thường đạt được nhờ dây đai cằm được giữ quanh cằm và được gắn với nhau bằng một số dạng khóa. Chúng được kết nối với từng mặt của lớp vỏ bên ngoài rất chắc chắn. Trong khi đội mũ bảo hiểm, cần buộc chặt quai mũ đúng cách.
Hickling (30) đề xuất rằng 12 thông số cần thiết cho khả năng chấp nhận của một chiếc mũ bảo hộ lao động để bảo vệ đầu: bảo vệ thời tiết; tính chất nhiệt; thuộc tính xúc giác; độ hấp thụ / độ thấm; phân phối hàng loạt; mức độ phù hợp; kích thước và hình dạng; hiệu suất duy trì và sự phù hợp; khối lượng mũ bảo hiểm; yếu tố thị giác; các yếu tố lời nói và âm thanh và khả năng tương thích của mũ bảo hiểm. Đặc tính nhiệt của mũ bảo hộ lao động là một trong những thông số quan trọng đối với người lao động ở vùng khí hậu nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới trong số 12 yếu tố này. Quy định về đội MBH, các đối tượng đội MBH *Sử dụng mũ bảo hiểm Việc sử dụng MBH cho người đi mô tô xe máy được qui định trong các văn bản luật hiện hành tại Việt nam. Theo luật Giao thông đường bộ (2008), người ngồi trên mô tô xe máy bao gồm 2, 3 bánh đều phải đội MBH, có cài quai đúng cách (31).
Không có qui định rõ giới hạn tuổi hoặc đối tượng đội MBH. - Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy phải đội mũ bảo hiểm có cài quai đúng quy cách. (điều 30 khoản 2) - Người điều khiển, người ngồi trên xe đạp máy phải đội mũ bảo hiểm có cài quai đúng quy cách. (điều 31 khoản 2) Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông: Mục 6.
Giải pháp giảm thiểu thiệt hại do tai nạn giao thông (32) 9 a) Từ ngày 15/9/2007, người đi mô tô, xe gắn máy trên các quốc lộ bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm. b) Từ ngày 15/12/2007, người đi mô tô, xe gắn máy trên tất cả các tuyến đường bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm." *Quy định về xử phạt Theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP (khoản 2i-k điều 6) qui định hình phạt tiền từ 200.000đ đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây (33): - Không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ - Chở người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật. Thực trạng tai nạn giao thông đường bộ 1. Trên thế giới Theo Báo cáo thực trạng an toàn giao thông đường bộ toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giới WHO năm 2018, tai nạn giao thông là nguyên nhân của 1.35 tỉ trường hợp tử vong trên toàn thế giới.
TNGTĐB là tác nhân chính gây thiệt hại khoảng 3% tổng GDP của hầu hết các quốc gia trên. Hơn một nửa số ca tử vong do TNGTĐB thuộc nhóm người đi bộ và sử dụng phương tiện giao thông cơ giới như xe máy, xe đạp, xe đạp điện (10). Số ca tử vong và tỷ lệ tử vong do TNGTĐB trên 100.000 dân (2000–2016) (10) Số lượng các ca tử vong do TNGTĐB trên thế giới tiếp tục tăng lên từ 1,15 triệu năm 2000 và đạt mức cao 1,35 triệu vào năm 2016. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong tương ứng với quy mô dân số thế giới đã khá ổn định trong 15 năm qua ở mức khoảng 18 người chết trên 100.8 người chết trên 100.2 người chết trên 100.