ĐẶT VẤN ĐỀ Thế kỷ 21 là thế kỷ già hoá dân số do giảm tỷ lệ sinh, tăng tuổi thọ và trở thành một vấn đề xã hội có tác động rất lớn đến tiến trình phát triển chung của tất cả các nƣớc trên nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, xã hội, y tế, văn hóa [2]. Ở Việt Nam tỷ lệ ngƣời cao tuổi (NCT) tăng lên nhanh chóng. Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ này sẽ tăng đột biến có thể đạt 9,6% vào năm 2015 và 11,2% năm 2019[20]. Cùng với các điều kiện kinh tế chính trị xã hội ổn định và với tốc độ tăng trƣởng dân số nhƣ hiện nay thì đến năm 2019 dân số Việt Nam sẽ đạt mốc 95,354 triệu dân, trong đó NCT chiếm khoảng 11,2%.
Đây sẽ là thách thức to lớn với Ngành Y tế trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho NCT[20]. Tuy tuổi thọ trung bình của ngƣời Việt Nam là 72 nhƣng khoảng 95% ngƣời cao tuổi có bệnh. Các nhóm bệnh thƣờng mắc ở ngƣời cao tuổi nhƣ sau: nhóm bệnh về cơ-xƣơng-khớp 53,8%; nhóm bệnh về hô hấp 41,6%; nhóm bệnh về tiêu hoá 27,1%; nhóm bệnh về tim mạch 31,3%[24]. Theo nghiên cứu của Trần Hoàng Lộc năm 2005 thì số ngƣời cao tuổi ốm trên 1 ngày trong vòng 4 tuần là 59%.
Trong đó phải nằm tại chỗ là 17,7%; cần có ngƣời khác chăm sóc là 8%[11]. Do đó ngƣời cao tuổi có nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế cao hơn các lứa tuổi khác. Đồng thời những thay đổi tâm - sinh lý cũng là yếu tố cản trở sự tiếp cận của ngƣời cao tuổi đối với các dịch vụ y tế. Hiện nay chi phí y tế ngày càng cao, nhƣng do tính phụ thuộc nên khả nǎng tự chi trả của ngƣời cao tuổi rất hạn chế, chỉ 30% ngƣời cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế (ngƣời về hƣu, mất sức, ngƣời có công,.
Do có thu nhập thấp và thƣờng phải sống dựa vào con cái nên gánh nặng chi phí khám chữa bệnh của NCT, nhất là những ngƣời không có thẻ BHYT, do vậy không chỉ ảnh hƣởng đến sức khoẻ của họ mà còn tác động tới chi tiêu và đời sống của các thành viên khác trong gia đình. Chi phí trung bình cho 1 lần ốm của ngƣời cao tuổi là 134.000 đồng cao hơn trung bình các nhóm tuổi khác. Chi phí khám chữa bệnh tại trạm y tế là thấp nhất (40.100 đồng/lƣợt), tại y tế tƣ nhân là 135.200 2 đồng/lƣợt, tự mua thuốc điều trị là 75. Ngƣời cao tuổi không có bảo hiểm y tế cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc thanh toán tiền khám chữa bệnh, theo nghiên cứu của Trần Hoàng Lộc tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dƣơng năm 2005 có 11,2% các cụ không có bảo hiểm y tế phải vay tiền để khám chữa bệnh, 2,3% phải bán tài sản và 4,6% không trả đƣợc[11].
Chƣơng Mỹ là một huyện ngoại thành phía tây nam thành phố Hà Nội, diện tích khoảng 233 km2, có 30 xã và 02 thị trấn, dân số có 295.513 ngƣời, là 1 huyện vùng bán sơn địa.500 ngƣời trên 60 tuổi, ngƣời cao tuổi chiếm 9,64%. Hiện nay trong các chƣơng trình y tế quốc gia của huyện không có chƣơng trình nào liên quan đến ngƣời cao tuổi. Mặt khác, theo thông tƣ 02/2004 của Bộ Y tế thì Trạm Y tế xã có nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ của NCT tại địa bàn của mình. Lam Điền là một trong những xã nghèo nhất huyện Chƣơng Mỹ với thu nhập bình quân đầu ngƣời 810.000 đồng/ngƣời/ tháng, xã có dân số là 10.350 ngƣời, vì là một xã trong vùng phân lũ của thành phố Hà Nội nên hệ thống đƣờng giao thông không đƣợc tốt và xa trung tâm huyện (khoảng gần 6 km).
Các cụ trên 60 tuổi là 970 cụ, chiếm 9,4% dân số của xã, tỷ lệ này cao hơn mức trung bình của cả nƣớc (9%). Số ngƣời cao tuổi không có bảo hiểm y tế là 315 NCT chiếm 32,4% trong tổng số ngƣời cao tuổi. Qua xem xét số liệu báo cáo thống kê và phỏng vấn nhanh cán bộ y tế xã, chúng tôi nhận thấy số lần khám bệnh bình quân/ngƣời/năm của toàn huyện: 321. Nhƣ vậy tình hình ốm đau và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của ngƣời cao tuổi là một vấn đề rất đáng quan tâm, đặc biệt là đối với ngƣời cao tuổi không có thẻ BHYT.
Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: Tình trạng ốm đau của ngƣời cao tuổi không có bảo hiểm y tế ở xã Lam Điền ra sao? Hình thức sử dụng dịch vụ y tế của ngƣời cao tuổi bị ốm đau không có BHYT ở xã Lam Điền nhƣ thế nào? Những yếu tố nào có liên quan đến việc sử dụng dịch vụ y tế của ngƣời cao tuổi bị ốm đau không có thẻ BHYT? 3 Để tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế của người cao tuổi bị ốm đau không có BHYT tại xã Lam Điền huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, năm 2011”. Trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị giúp cho công tác chăm sóc sức khoẻ ngƣời cao tuổi tại địa phƣơng. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chung: Tìm hiểu thực trạng sử dụng dịch vụ y tế của ngƣời cao tuổi bị ốm đau không có thẻ BHYT tại xã Lam Điền, huyện Chƣơng Mỹ, thành phố Hà Nội, năm 2011. Mục tiêu cụ thể: 1.
Mô tả thực trạng ốm đau của ngƣời cao tuổi không có thẻ BHYT tại xã Lam Điền, huyện Chƣơng Mỹ, thành phố Hà Nội năm 2011. Mô tả tình hình sử dụng dịch vụ y tế của ngƣời cao tuổi bị ốm đau không có thẻ BHYT tại xã Lam Điền, huyện Chƣơng Mỹ, thành phố Hà Nội năm 2011. Phân tích các yếu tố liên quan đến sử dụng dịch y tế của ngƣời cao tuổi bị ốm đau không có thẻ BHYT tại xã Lam Điền, huyện Chƣơng Mỹ, thành phố Hà Nội năm 2011. Tình hình dân số học về ngƣời cao tuổi 1.
Khái niệm người cao tuổi Theo Tổ chức Y tế thế giới sắp xếp NCT nhƣ sau: - Từ 60 – 74 tuổi: ngƣời cao tuổi - Từ 75 – 90 tuổi: ngƣời già - Trên 90 tuổi: ngƣời già sống lâu Theo Luật ngƣời cao tuổi Việt Nam quy định: ngƣời từ 60 tuổi trở lên (không phân biệt giới tính) là ngƣời cao tuổi[14]. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây khái niệm ngƣời cao tuổi đƣợc sử dụng phổ biến, về mặt khoa học thì ngƣời già hay ngƣời cao tuổi đều có ý nghĩa nhƣ nhau. Về mặt sinh học, tuổi già ở mỗi cá nhân rất khác nhau theo lứa tuổi. Có những ngƣời tuổi rất cao nhƣng sức lực và trí tuệ vẫn minh mẫn, song có những ngƣời tuổi chƣa cao song sức lực và trí tuệ lại giảm sút, ngƣời ta gọi là lão suy.
Hiện tƣợng lão suy sớm hay muộn còn phụ thuộc vào đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời già.2 Người cao tuổi trên thế giới Già hóa dân số là một hiện tƣợng mang tính toàn cầu, xảy ra ở khắp nơi và ảnh hƣởng đến mọi quốc gia, dân tộc. Đây là hiện tƣợng chƣa từng thấy trong lịch sử loài ngƣời, bắt đầu xuất hiện trong thế kỷ XX và tiếp tục trong thế kỷ XXI với mức độ ngày càng gia tăng[2]. Vấn đề già hóa dân số trở thành một thách thức lớn cho hệ thống y tế, ở nhiều nƣớc mặc dù hệ thống chăm sóc sức khỏe rất tốt nhƣng đây vẫn là vấn đề lớn vì chi phí chăm sóc sức khỏe cho ngƣời cao tuổi, đặc biệt là những ngƣời rất cao tuổi ngày càng tăng. Tình trạng già hóa dân số đã làm thay đổi cấu trúc dân số xã hội và đặt ra những vấn đề bức xúc đòi hỏi mỗi nƣớc phải có những chính sách thích hợp để giải quyết.
Đánh giá đƣợc tầm quan trọng này năm 1982, lần đầu tiên LHQ triệu tập Đại hội thế giới về tuổi già họp tại thành phố Viên, thủ đô nƣớc Áo, đã thống nhất đƣa 6 ra 50 điều khuyến cáo bao quát 6 mục tiêu lớn về NCT, trong đó mục tiêu về sức khỏe và dinh dƣỡng đƣợc đề cập đầu tiên. Năm 1991, LHQ tiếp tục thông qua những nguyên tắc đạo lý đối với NCT, bao gồm 5 nguyên tắc và quyền đƣợc chăm sóc khi cần thiết cũng đƣợc đề cập đến. Năm 2002, tại Madrid, Tây Ban Nha, Đại hội đồng LHQ triệu tập hội nghị thế giới lần 2 về già hóa dân số và thông qua kế hoạch hành động quốc tế về NCT. Theo quy ƣớc của LHQ, một quốc gia có tỷ lệ NCT từ 10% trở lên thì quốc gia đó đƣợc gọi là dân số già.
Pháp đạt tỷ lệ này từ năm 1935, Thụy Điển năm 1950. Thời gian để một nƣớc tăng tỷ lệ NCT từ 7% lên 10% đạt ngƣỡng dân số già rất khác nhau, Pháp 70 năm (1865-1935), Mỹ 35 năm (1945-1975), Nhật Bản chỉ có 15 năm (1970-1985)[29]. Nhƣ vậy, tốc độ già hóa dân số song song với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội, tốc độ phát triển ở mỗi quốc gia càng nhanh thì tốc độ già hóa càng mạnh. Giữa các khu vực có sự chênh lệch rõ rệt về số lƣợng và tỷ lệ NCT.
Tỷ lệ NCT cao nhất ở các nƣớc đã phát triển, chẳng hạn Thụy Điển (22%) gấp hơn 3 lần Ấn Độ (7,2%) nhƣng số lƣợng NCT nhiều nhất lại ở các nƣớc đang phát triển.120 triệu NCT, có tới 805 triệu cụ sống ở các nƣớc nghèo, tức là các nƣớc nghèo chiếm đến 80% NCT của Thế giới[28]. Bảng 1 Số lƣợng và tỷ lệ ngƣời cao tuổi trên Thế giới[30] Chỉ tiêu 1950 1975 2000 2050 Số dân (triệu) 2500 3900 6080 8000 Số NCT (triệu) 214 350 590 1120 Tỷ lệ NCT (%) 8,6 9,1 9,7 14,0 Số NCT ở các nƣớc giàu (triệu) 95 166 230 315 Số NCT ở các nƣớc nghèo (triệu) 119 180 360 805 (Nguồn: Báo cáo của WHO năm 2004) Theo WHO, thế giới đang trở nên già hóa. Tuổi thọ tăng cao, tỷ lệ sinh ngày càng giảm dẫn đến nhóm dân số trẻ giảm dần và số ngƣời già càng gia tăng. Theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, ở thời đại đồ sắt và đồ đồng, tuổi thọ trung bình của 7 con ngƣời trên thế giới là 18 năm đến 20 năm.
Bƣớc sang đầu Công nguyên, tuổi thọ bình quân con ngƣời khoảng 22 năm, cho đến đầu thế kỷ XVIII, tuổi thọ trung bình khoảng 35 năm và đến thế kỷ XIX là 40 năm đến 45 năm. Năm 1994, Cattell đã xếp hơn 170 nƣớc trên thế giới làm 4 nhóm theo tình trạng dân số. Dân số quá trẻ (có tỷ lệ NCT từ 4% trở xuống). Dân số trẻ (từ 4-6%), Dân số trƣởng thành (7-9%) và dân số già (từ 10% trở lên).