ĐẶT VẤN ĐỀ Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [1]. Khuyết tật không phải là vấn đề của riêng quốc gia nào mà là vấn đề mang tính toàn cầu. Ở bất kỳ quốc gia nào và trong bất kỳ chế độ chính trị, xã hội nào thì người khuyết tật (NKT) cũng vẫn là người công dân bình đẳng không thể tách rời khỏi cộng đồng [2], [3]. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới và Liên hợp quốc, tỷ lệ NKT trên thế giới chiếm khoảng 10% dân số.
Dự báo đến năm 2025 số NKT vừa và nặng ở những nước kém phát triển sẽ lên tới 573 triệu người (trung bình mỗi năm tăng 8,5 triệu người, tương ứng với 23.200 người mỗi ngày) [4]. Riêng khu vực Tây Thái Bình Dương có hơn 100 triệu người khuyết tật, trong số đó 75% chưa được chăm sóc về y tế và bảo trợ xã hội, đặc biệt ở các nước đang phát triển tỷ lệ đó là 98%. Nguyên nhân của khuyết tật là: 85% do bị bệnh và tuổi cao; 10% do tai nạn và bạo lực; 5% do bẩm sinh [5], [6]. Hiện tại chưa có một con số chính xác về NKT trên phạm vi toàn cầu và của từng khu vực, chưa có sự thống nhất toàn cầu về khái niệm khuyết tật, các thuật ngữ liên quan cũng như công cụ đo lường trong điều tra khuyết tật [2], [3].
Do có sự khác nhau về khái niệm và phương pháp điều tra, đo lường khuyết tật mà tỷ lệ NKT rất khác nhau ở các nước như: Canada 14,7%; Na Uy 17,6%; Mỹ 16%; New Zealand 20%; Úc 18%. Trong khi đó Kenya 0,7%; Nigeria 0,5%; Nam Phi 0,5% [2], [3]. Mặt khác, tỷ lệ NKT trên thế giới vẫn tăng thêm 1,63% mỗi năm, 60% người khuyết tật có thể bị quên lãng [7], [8], [9]. 2 Nếu theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới thì Việt Nam có khoảng 7 triệu NKT trong đó 3 triệu là trẻ em.
Theo số liệu từ cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam dựa trên phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe năm 2006 cho biết con số người khuyết tật chung là 15,3%, vùng có tỷ lệ khuyết tật cao nhất là Đông Nam Bộ, thấp nhất là Tây Bắc. Tỷ lệ người khuyết tật khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (17,8% so với 14,4%) [2], [3], [10], [11]. Tại Đồng Nai, tỷ lệ NKT chiếm khoảng 5,6 - 6% dân số của tỉnh. Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại Đồng Nai đã được thực hiện từ năm 1996, nhưng chỉ áp dụng cho trẻ khuyết tật dưới 15 tuổi.
Kinh phí cho chương trình hạn chế, sự quan tâm phối hợp của các ngành chưa hiệu quả nên chương trình gián đoạn và chưa có sự đánh giá nào về chương trình. Vậy, thực trạng người khuyết tật vận động tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai hiện nay ra sao, nhu cầu phục hồi chức năng cho đối tượng này như thế nào, giải pháp nào hiệu quả giúp cải thiện nhu cầu phục hồi chức năng cho người khuyết tật tại đây? Nhằm trả lời các câu hỏi trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài luận án “Thực trạng phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật vận động và hiệu quả mô hình can thiệp tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai” với các mục tiêu sau: MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 1. Mô tả thực trạng người khuyết tật vận động và phục hồi chức năng cho người khuyết tật vận động dựa vào cộng đồng tại huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai năm 2017. Đánh giá hiệu quả mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật vận động tại huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai.
Đại cương về khuyết tật và khuyết tật vận động Khi có một nguyên nhân gây bệnh (vật lý, hóa học, sinh học,…) vào cơ thể có thể làm thay đổi sinh lý, sinh hóa của cơ thể gọi là quá trình bệnh. Bất kỳ một bệnh nào cũng có diễn biến theo một quá trình nhất định, có những bệnh có thể tự khỏi hoặc khỏi hoàn toàn nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời, có những bệnh có thể dẫn đến tử vong, có những bệnh có thể để lại di chứng và sau đó gây nên khuyết tật [13], [14], [15]. Khuyết tật đề cập đến bất kỳ hình thức hạn chế hoặc thiếu chức năng nào để thực hiện một hoạt động theo cách trong phạm vi được coi là bình thường đối với con người. Khuyết tật có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn, có thể đảo ngược hoặc không thể đảo ngược điều đó được mô tả là tiến triển hoặc thoái lui [16].
Khuyết tật là một thuật ngữ chung để chỉ những hạn chế hoạt động và hạn chế tham gia, biểu thị các khía cạnh tiêu cực của sự tương tác giữa một cá nhân và các yếu tố ngoại cảnh của cá nhân đó. Người khuyết tật bao gồm những người bị tổn thương về thể chất, tinh thần, khiếm khuyết về trí tuệ hoặc giác quan, cùng với các rào cản khác có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trên cơ sở bình đẳng với những người khác [17], [18]. Các khái niệm liên quan đến khuyết tật 1. Quá trình tàn tật Quá trình gây bệnh chưa thể hiện hết quá trình tiến triển của bệnh.
Trong thực tế có nhiều bệnh diễn biến đến quá trình tiếp theo đó là quá trình tàn tật [19]. Diễn biến từ bệnh → khiếm khuyết → giảm khả năng → tàn tật Khiếm khuyết: Là sự mất một phần, thiếu hụt hay bất thường về sinh lý, 4 cấu trúc, chức năng, giải phẫu, của một phần thân thể thường do bệnh, tai nạn tạo nên [20], [21], [22], [23]. Giảm chức năng: Là mất hoặc giảm sút một phần hay nhiều chức năng nào đó của cơ thể do khiếm khuyết hoặc môi trường tạo nên [3], [21], [22]. - Môi trường tiếp cận (như: nhà cửa, đường sá, trường học…): Một số người mặc dù khiếm khuyết nhưng sống trong một môi trường được tiếp cận tốt nên có thể không bị hạn chế vận động mà vẫn có thể tham gia nhiều hoạt động xã hội.
Trong khi đó, một số người khác cũng trong tình trạng khiếm khuyết, nhưng do môi trường không được tiếp cận nên không thể đi lại tham gia các hoạt động cộng đồng được và kết quả là hạn chế tham gia xã hội. - Môi trường xã hội: Chỉ sự quan tâm của gia đình, của mọi người trong cộng đồng đối với người khuyết tật. Bản thân người khuyết tật không vượt qua được rào cản của chính mình, gia đình và xã hội. Tàn tật: Tình trạng người bệnh do khiếm khuyết cản trở người đó thực hiện vai trò của mình để tồn tại trong cộng đồng mà phải phụ thuộc một phần hoặc hoàn toàn vào người khác, trong lúc những người khác cùng tuổi, cùng giới, cùng hoàn cảnh thực hiện được [3], [23].
Có thể nói bệnh là do các bệnh nguyên ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể người bệnh, còn tàn tật là vai trò của người bị bệnh ảnh hưởng đến không chỉ bản thân người đó mà cả yếu tố xã hội. Vì vậy cách giải quyết bệnh và tật có khác nhau. Định nghĩa về khuyết tật: Trong lịch sử, khuyết tật được hiểu theo những khái niệm thần thoại hay tôn giáo, ví dụ: người khuyết tật được coi như bị ma quỷ hoặc các thế lực siêu nhiên ám ảnh; khuyết tật cũng được xem như sự trừng trị cho những tội lỗi mà người đó đã gây ra [24]. Từ cuối thế kỷ 19, với sự phát triển của khoa học và y học đã đem lại hiểu biết rằng, khuyết tật xuất phát từ nguyên nhân sinh học và y học, với những khiếm khuyết của các chức năng và cấu trúc cơ 5 thể kết hợp với những điều kiện sức khỏe khác nhau.
Khái niệm mang tính y học này nhìn nhận khuyết tật là vấn đề của một cá nhân. Vì vậy việc giải quyết khuyết tật về cơ bản là tập trung vào việc chữa trị bởi các chuyên gia [24]. Từ những năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX, hàng loạt cách tiếp cận mang tính xã hội phát triển. Các cách tiếp cận đó đã kéo sự chú ý về khuyết tật vượt ra khỏi phạm trù y học, thay vào đó, tập trung vào những rào cản xã hội và phân biệt đối xử mà NKT phải đối mặt.
Khuyết tật được định nghĩa lại như một vấn đề mang tính xã hội hơn và các giải pháp bắt đầu tập trung vào việc xóa bỏ những rào cản, xã hội chứ không chỉ can thiệp về mặt y tế. Phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) cho rằng khuyết tật là “một khái niệm bao trùm cho sự khiếm khuyết, sự hạn chế hoạt động và tham gia”, kết quả từ sự tương tác giữa một người với điều kiện sức khỏe của mình và những yếu tố môi trường, và những yếu tố của cá nhân người đó [24]. Tại Việt Nam, Luật người khuyết tật xác định: khuyết tật là người có khó khăn một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng làm suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ, giác quan trong một thời gian dài được biểu hiện dưới dạng các khuyết tật và do các rào cản xã hội, thiếu các điều kiện hỗ trợ phù hợp dẫn tới bị cản trở tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội [1], [25]. Nguyên nhân khuyết tật Trên thế giới, những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra khuyết tật bao gồm: Các bệnh kinh niên (tiểu đường, tim mạch và ung thư); thương tật (tai nạn giao thông, té ngã, và bom mìn); những vấn đề về sức khỏe tâm thần; các dị tật bẩm sinh; suy dinh dưỡng; các bệnh truyền nhiễm.
Rất khó ước tính chính xác số lượng NKT trên toàn thế giới. Tuy nhiên số lượng này hiện tăng lên do những yếu tố như gia tăng dân số, sự gia tăng các bệnh mạn tính, độ tuổi, và tiến bộ của y học trong bảo vệ sức khỏe và kéo dài cuộc sống. 6 Ngoài ra có nhiều nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ khuyết tật như [26], [27]: Chiến tranh và bạo lực; đói nghèo; trình độ học vấn và dân trí thấp; quan niệm không đúng về khuyết tật của cộng đồng; hệ thống chăm sóc sức khỏe phòng ngừa bệnh tật không tốt; gia tăng tai nạn thương tích, thảm họa môi trường tự nhiên; ô nhiễm môi trường, mất an toàn thực phẩm; y học phát triển, tuổi thọ tăng cao; dị tật bẩm sinh; AIDS;.