Tổng quan luận án
Vấn đề khuyết tật là một thách thức y tế công cộng và xã hội mang tính toàn cầu. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Liên Hợp Quốc, người khuyết tật (NKT) chiếm khoảng 10% dân số thế giới; tại các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ người khuyết tật chưa được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ chăm sóc y tế và bảo trợ xã hội vẫn ở mức cao. Tại Việt Nam, các cuộc điều tra của Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ lệ người khuyết tật dao động từ 5,2% đến 7,8% dân số, trong đó khuyết tật vận động chiếm tỷ trọng lớn nhất (50% đến 60%).
Tại tỉnh Đồng Nai, người khuyết tật chiếm khoảng 5,6% đến 6,0% dân số (khoảng 154.000 người), trong đó khuyết tật vận động chiếm 51,8%. Mặc dù chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (CBR) đã được triển khai tại Đồng Nai từ năm 1996, phạm vi ban đầu chỉ giới hạn ở trẻ em dưới 15 tuổi và sau đó bị gián đoạn hoặc hoạt động cầm chừng do hạn chế về kinh phí, nhân lực và sự phối hợp liên ngành. Huyện Thống Nhất là địa bàn cửa ngõ phía Bắc của tỉnh, địa hình phân bố dân cư phức tạp, tập trung đông đồng bào có đạo (chủ yếu là đạo Thiên Chúa) và nhiều dân tộc thiểu số, với hơn 11.000 người khuyết tật mà đa số là khuyết tật vận động. Trước bối cảnh đó, luận án tiến sĩ y tế công cộng của tác giả Nguyễn Hồng Quang được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu về thực trạng nhu cầu phục hồi chức năng và đánh giá hiệu quả của mô hình can thiệp CBR lấy người chăm sóc chính làm trung tâm tại tuyến cơ sở.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:
- Mô tả thực trạng người khuyết tật vận động và phục hồi chức năng cho người khuyết tật vận động dựa vào cộng đồng tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai năm 2017.
- Đánh giá hiệu quả mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật vận động tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm:
- Người khuyết tật vận động sinh sống trên địa bàn huyện Thống Nhất trong thời gian nghiên cứu, có khiếm khuyết, giảm khả năng về hệ vận động do các bệnh lý và tổn thương: bại não, bàn chân khoèo, teo cơ, gù, cong vẹo cột sống, trật khớp háng bẩm sinh, tổn thương tủy sống, liệt nửa người do tai biến mạch máu não, thoái hóa khớp, cụt chi, có chân tay giả và các biến dạng hệ vận động khác.
- Người chăm sóc chính (NCSC) trực tiếp thực hiện việc chăm sóc hoặc phục hồi chức năng cho người khuyết tật vận động tại gia đình (mỗi hộ gia đình chọn 01 người).
- Đối tượng phỏng vấn sâu định tính: Trưởng trạm, phó trạm hoặc cán bộ phụ trách chương trình tại trạm y tế xã, người khuyết tật và thân nhân người khuyết tật.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên toàn bộ 10 xã thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai (Gia Tân 1, Gia Tân 2, Gia Tân 3, Gia Kiệm, Quang Trung, Bàu Hàm 2, Lộ 25, Hưng Lộc, Xuân Thạnh, Xuân Thiện). Nghiên cứu can thiệp có đối chứng thực hiện tại 04 xã: 02 xã can thiệp (Bàu Hàm 2, Lộ 25) và 02 xã đối chứng (Gia Kiệm, Xuân Thạnh).
- Thời gian: Toàn bộ công trình tiến hành từ tháng 6/2017 đến tháng 12/2019. Trong đó, điều tra cắt ngang tiến hành từ tháng 11/2017 đến tháng 12/2017; can thiệp thực địa triển khai từ tháng 1/2018 đến tháng 12/2019; đánh giá sau can thiệp chia làm 02 đợt (đợt 1 vào tháng 12/2018 sau 12 tháng và đợt 2 vào tháng 12/2019 sau 24 tháng).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về dịch tễ học khuyết tật, nhu cầu phục hồi chức năng và các mô hình can thiệp cộng đồng:
Trên bình diện quốc tế, tác giả trích dẫn các báo cáo và số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1993, 2002, 2011, 2013, 2016), Báo cáo Khảo sát Y tế Thế giới và Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2004, 2020), Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF, 2005, 2010, 2018), Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA, 2019) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2013). Các nghiên cứu quốc tế được điểm lại gồm: điều tra dịch tễ tại Afghanistan (2006) với 37% khuyết tật vận động; khảo sát tại Áo (2008) với 20,5% dân số khuyết tật vĩnh viễn; nghiên cứu tại Campuchia (2004) với 24% khuyết tật liên quan vận động; công trình của Clare M. Blackburn (2010) tại Anh về trẻ khuyết tật; thống kê tại Mỹ (2010), New Zealand (2013) và Úc (2015). Về mô hình can thiệp, tác giả phân tích báo cáo của Manoj Sharma (2001) về sự phát triển của CBR tại Việt Nam và các nước đang phát triển từ năm 1987.
Tại Việt Nam, luận án tổng hợp kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả qua các giai đoạn:
- Nghiên cứu của Trần Trọng Hải (1996, 2010) về mô hình mạng lưới CBR lồng ghép chăm sóc sức khỏe ban đầu và công cụ lượng hóa 23 nhu cầu thiết yếu.
- Nghiên cứu của Trần Văn Chương tại Mai Châu, Hòa Bình (2004) ghi nhận tỷ lệ khuyết tật 2,6%, khuyết tật vận động chiếm 40,1%.
- Nghiên cứu của Nguyễn Lương Bầu tại Tân Yên, Bắc Giang (2005) ghi nhận tỷ lệ khuyết tật 3,6%.
- Nghiên cứu của Phạm Thị Nhuyên tại Hải Dương (2006) ghi nhận tỷ lệ 6,1%.
- Nghiên cứu của Trần Văn Hải tại Tam Điệp, Ninh Bình với tỷ lệ 1,4%.
- Nghiên cứu của Lê Phương Linh tại Từ Liêm, Hà Nội (2006) chỉ ra 36,13% người khuyết tật được PHCN tại nhà, trong khi tuyến chuyên khoa chỉ đạt 17,92%.
- Nghiên cứu của Phạm Đức Hiệp tại Bình Giang, Hải Dương (2010) với tỷ lệ khuyết tật vận động là 34,1%.
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh và cộng sự tại Hoàng Mai, Hà Nội (2011) với tỷ lệ NKT là 9,5% dân số.
- Nghiên cứu của Đào Thanh Quang tại Tuyên Quang (2012) ghi nhận nhu cầu PHCN ở NKT vận động lên tới 89,6%.
- Nghiên cứu của Đào Đức Tân (2012) và Phạm Thị Tỉnh (2017) tại Thái Bình ghi nhận hiệu quả mô hình CBR với hơn 80% NKT được phục hồi tại cộng đồng.
- Nghiên cứu của Nguyễn Văn Học tại Lâm Hà, Lâm Đồng (2013) ghi nhận 85,6% NKT tiến bộ trong tập luyện nhờ CBR.
- Các nghiên cứu của Lê Bạch Dương, Lê Xuân Thắng (Nam Định), Trần Văn Vương (Hạ Hòa, Phú Thọ), Nguyễn Thị Thời (Bắc Giang) và đánh giá của Lê Thị Thanh Hà về thực trạng kinh tế - xã hội của hộ gia đình người khuyết tật.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Phân bố nhân lực phục hồi chức năng tại Việt Nam có sự mất cân đối nghiêm trọng: tuyến xã nơi tập trung 75% đến 80% người khuyết tật lại hoàn toàn không có cán bộ chuyên khoa phục hồi chức năng (0%), trong khi tuyến trung ương chỉ có 1% đến 5% nhu cầu nhưng tập trung 79% đến 85% nhân lực chuyên khoa. Tại Đồng Nai, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện thực trạng nhu cầu phục hồi chức năng ở người lớn và trẻ em khuyết tật vận động, cũng như chưa có mô hình can thiệp chuẩn hóa thông qua việc chuyển giao kỹ thuật thực hành phục hồi chức năng cho người chăm sóc chính tại hộ gia đình có đánh giá đối chứng theo thời gian (12 tháng và 24 tháng).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng trên các nền tảng lý thuyết và khung phân loại chuẩn hóa:
- Quá trình tàn tật: Phân tích diễn tiến từ Bệnh nguyên $\rightarrow$ Khiếm khuyết (tổn thương cấu trúc, giải phẫu, sinh lý) $\rightarrow$ Giảm khả năng (hạn chế hoạt động) $\rightarrow$ Tàn tật (hạn chế tham gia xã hội dưới tác động của môi trường tiếp cận và môi trường xã hội).
- Khung Phân loại Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) của WHO: Tiếp cận khuyết tật đa chiều, xem khuyết tật là sự tương tác giữa tình trạng sức khỏe với các yếu tố môi trường và yếu tố cá nhân.
- Tháp nhu cầu Maslow và Bảng kiểm 23 nhu cầu thiết yếu: Ứng dụng 5 bậc nhu cầu cơ bản (sinh lý, an toàn, xã hội, được tôn trọng, tự khẳng định) được cụ thể hóa thành 23 nhu cầu tham gia hoạt động hàng ngày của người khuyết tật (theo hướng dẫn của WHO và chuyển biên của Trần Trọng Hải năm 1996), phân loại thành 04 nhóm lĩnh vực:
- Nhóm I: Nhu cầu PHCN về sinh hoạt (ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo, vệ sinh...).
- Nhóm II: Nhu cầu PHCN về giao tiếp (nghe, nói, hiểu...).
- Nhóm III: Nhu cầu PHCN về vận động (lẫy, ngồi, đứng, đi lại, lăn trở...).
- Nhóm IV: Nhu cầu PHCN về hòa nhập (chia theo nhóm dưới 16 tuổi: học hành, vui chơi; và nhóm từ 16 tuổi trở lên: làm việc, tạo thu nhập, tham gia đoàn thể).
Mức độ phụ thuộc được lượng hóa theo thang điểm 3 mức: Mức 0 (Không phụ thuộc), Mức 1 (Phụ thuộc một phần), Mức 2 (Phụ thuộc hoàn toàn).
- Mô hình bình đẳng quan hệ theo Dajani: Gồm 4 trạng thái thái độ xã hội: Áp bức đè nén $\rightarrow$ Thành kiến $\rightarrow$ Chấp nhận $\rightarrow$ Bình đẳng.
- Chiến lược Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (CBR): Khung định nghĩa phối hợp của WHO, ILO, UNESCO (1994), lấy người khuyết tật làm trung tâm, gia đình và cộng đồng là mạng lưới hỗ trợ trực tiếp.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính:
| Phương pháp |
Thiết kế |
Cỡ mẫu và chọn mẫu |
Công cụ và kỹ thuật thu thập |
| Định lượng (Giai đoạn 1) |
Mô tả cắt ngang |
Cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu $n=601$ (tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ với $p=0,5$, $d=0,04$, $\alpha=0,05$). Thực tế điều tra toàn bộ 670 NKT vận động và 670 NCSC tại 10 xã huyện Thống Nhất. |
Bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc, bảng kiểm lượng hóa 23 nhu cầu thiết yếu theo thang điểm 0-1-2, phiếu đánh giá kiến thức - thực hành của NCSC. |
| Định lượng (Giai đoạn 2) |
Can thiệp cộng đồng có đối chứng, đánh giá trước - sau |
Tổng cộng 275 cặp NKT và NCSC tại 04 xã: - Nhóm can thiệp ($n=141$): Xã Bàu Hàm 2 (114 cặp), Xã Lộ 25 (27 cặp). - Nhóm đối chứng ($n=134$): Xã Gia Kiệm (55 cặp), Xã Xuân Thạnh (79 cặp). |
Can thiệp: Đào tạo, hướng dẫn trực tiếp cho NCSC về kiến thức, kỹ thuật tập luyện PHCN tại nhà, tự làm dụng cụ trợ giúp bằng tre gỗ. Đánh giá tại 3 mốc: T0 (trước can thiệp), T12 (sau 12 tháng), T24 (sau 24 tháng). |
| Định tính |
Phỏng vấn sâu |
Cán bộ y tế trạm (Trưởng/Phó trạm hoặc chuyên trách CBR), người khuyết tật vận động và thân nhân. |
Hướng dẫn phỏng vấn sâu bán cấu trúc ghi nhận rào cản xã hội, sự kỳ thị, lý do thực hành chưa tốt và mong đợi từ y tế cơ sở. |
Chỉ số đánh giá hiệu quả can thiệp sử dụng công thức tính Chỉ số hiệu quả (CSHQ):
$$\text{CSHQ} (%) = \frac{\text{Tỷ lệ trước can thiệp} - \text{Tỷ lệ sau can thiệp}}{\text{Tỷ lệ trước can thiệp}} \times 100$$
So sánh giữa nhóm can thiệp ($\text{CSHQ}{\text{ct}}$) và nhóm đối chứng ($\text{CSHQ}{\text{đc}}$) theo thời gian.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về quá trình tàn tật, phân loại khuyết tật theo y học, theo WHO và Luật Người khuyết tật Việt Nam năm 2010. Luận án phân tích sâu về đặc điểm bệnh học và giải phẫu chức năng của các dạng khuyết tật vận động chính (bại não, teo cơ, cong vẹo cột sống, trật khớp háng bẩm sinh, tổn thương tủy sống, bàn chân khoèo, di chứng tai biến mạch máu não). Chương này cũng tổng quan tình hình dịch tễ học người khuyết tật trên thế giới và tại Việt Nam, phân tích ba mô hình phục hồi chức năng (tại viện, ngoại viện và dựa vào cộng đồng - CBR), chỉ ra ưu thế vượt trội về mặt chi phí - hiệu quả và độ bao phủ của mô hình CBR đối với các nước đang phát triển. Đồng thời, chương 1 phản ánh thực trạng khuyết tật tại tỉnh Đồng Nai và huyện Thống Nhất, làm rõ sự gián đoạn của chương trình CBR từ năm 1996 và tính cấp thiết của nghiên cứu.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại 10 xã của huyện Thống Nhất với tổng diện tích 250,2 km² và 165.280 dân. Tác giả thiết lập tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ cụ thể cho NKT vận động và NCSC. Quy trình chọn mẫu cắt ngang (670 cặp) và chọn mẫu can thiệp có đối chứng (141 cặp can thiệp tại 2 xã Bàu Hàm 2, Lộ 25; 134 cặp đối chứng tại 2 xã Gia Kiệm, Xuân Thạnh) được trình bày minh bạch. Quy trình can thiệp bao gồm: lập hồ sơ quản lý, tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng thực hành cho NCSC, hướng dẫn các bài tập phục hồi chức năng sinh hoạt và vận động tại nhà, tư vấn cải tạo môi trường sống và tự tạo dụng cụ trợ giúp di chuyển từ vật liệu địa phương (thanh song song bằng tre, nạng gỗ), cùng hệ thống giám sát định kỳ của nhân viên y tế thôn bản và trạm y tế xã. Chương này cũng trình bày các biến số nghiên cứu, kỹ thuật xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê y học, các biện pháp kiểm soát sai số và quy chuẩn đạo đức nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng và định tính được chia làm hai phần tương ứng với hai mục tiêu nghiên cứu:
- Thực trạng NKT vận động và công tác PHCN tại địa bàn (n = 670): Trình bày phân bố tỷ lệ NKT vận động theo từng xã, nhóm tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nguyên nhân gây khuyết tật (bẩm sinh, bệnh tật, tai nạn) và thời gian mắc. Thống kê tỷ lệ NKT hiểu biết về chương trình CBR, các đối tượng tham gia hỗ trợ PHCN tại nhà, mức độ phụ thuộc trong sinh hoạt, vận động và hòa nhập xã hội. Về phía người chăm sóc chính, chương 3 phản ánh đặc điểm nhân khẩu học, mối quan hệ gia đình với NKT, thực trạng kiến thức và kỹ năng thực hành PHCN ban đầu còn nhiều thiếu hụt.
- Hiệu quả mô hình can thiệp CBR sau 12 tháng và 24 tháng: So sánh giữa nhóm can thiệp (141 cặp) và nhóm đối chứng (134 cặp). Kết quả chứng minh sự cải thiện rõ rệt ở nhóm can thiệp:
- Nhu cầu PHCN sinh hoạt: Tỷ lệ người khuyết tật phụ thuộc hoàn toàn và một phần vào các hoạt động ăn uống, tắm giặt, mặc quần áo giảm đáng kể, điểm trung bình nhu cầu sinh hoạt giảm, chỉ số hiệu quả can thiệp ($\text{CSHQ}_{\text{ct}}$) vượt trội so với nhóm chứng.
- Nhu cầu PHCN vận động: Khả năng tự lăn trở, ngồi dậy, đứng vững và đi lại bằng dụng cụ trợ giúp được nâng cao rõ rệt sau 24 tháng can thiệp.
- Nhu cầu PHCN hòa nhập: Nhóm trẻ dưới 16 tuổi có sự chuyển biến về cơ hội đi học và tham gia vui chơi; nhóm trên 16 tuổi cải thiện về mức độ tham gia các hoạt động xã hội, gia đình và khả năng lao động tạo thu nhập.
- Kiến thức và thực hành của NCSC: Tỷ lệ NCSC đạt kiến thức đúng và thực hành đúng các kỹ thuật PHCN cho NKT tại nhà ở nhóm can thiệp tăng cao rõ rệt so với trước can thiệp và cao hơn hẳn so với nhóm đối chứng sau 24 tháng.
- Các dữ liệu định tính được tích hợp qua 6 hộp thoại phản ánh thực tế về sự kỳ thị, khó khăn trong chăm sóc và hiệu quả tích cực về tinh thần, kinh tế gia đình khi tham gia mô hình.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tiến hành so sánh, đối chiếu các phát hiện nghiên cứu với các công trình của các tác giả trong và ngoài nước (Trần Trọng Hải, Đào Thanh Quang, Phạm Thị Tỉnh, Nguyễn Văn Học, Manoj Sharma...). Tác giả phân tích sâu cơ chế tác động của việc nâng cao năng lực cho người chăm sóc chính đối với sự phục hồi chức năng của người bệnh; bàn luận về mối liên quan giữa đặc điểm kinh tế - xã hội, tuổi, thời gian mắc với khả năng phục hồi; phân tích tính khả thi của việc tận dụng nguồn vật liệu tại chỗ (tre, gỗ) để chế tạo dụng cụ chỉnh hình đơn giản. Đồng thời, tác giả chỉ ra các hạn chế trong nghiên cứu như việc kiểm soát các yếu tố nhiễu ngoài can thiệp và tính bền vững của mô hình khi kết thúc dự án.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Luận án cung cấp các bằng chứng khoa học thực nghiệm về việc vận dụng khung Phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) và thang đo 23 nhu cầu thiết yếu cải biên vào điều kiện thực tế của hệ thống y tế công cộng tuyến huyện tại Việt Nam.
- Khẳng định tính đúng đắn của mô hình y tế công cộng dựa vào gia đình: trong điều kiện tuyến y tế cơ sở (xã, thôn bản) hoàn toàn thiếu vắng nhân lực chuyên khoa phục hồi chức năng, việc đào tạo và trao quyền cho người chăm sóc chính là giải pháp can thiệp có tính khả thi cao, chi phí thấp nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nhu cầu chăm sóc lớn và nguồn lực y tế hạn chế.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án đã điều tra toàn diện, xây dựng cơ sở dữ liệu dịch tễ học chính xác về 670 người khuyết tật vận động và người chăm sóc chính tại 10 xã thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai năm 2017, chỉ rõ các dạng tật, nguyên nhân và mức độ phụ thuộc trong sinh hoạt, vận động, hòa nhập.
- Thiết kế, triển khai và chứng minh tính hiệu quả của mô hình can thiệp CBR có đối chứng kéo dài 24 tháng trên 275 cặp đối tượng tại 4 xã. Can thiệp đã giúp:
- Nâng cao đáng kể tỷ lệ kiến thức đúng và thực hành đúng của người chăm sóc chính về các kỹ thuật phục hồi chức năng tại nhà.
- Giảm mức độ phụ thuộc, cải thiện rõ rệt điểm trung bình nhu cầu phục hồi chức năng sinh hoạt, vận động và hòa nhập xã hội cho người khuyết tật vận động.
- Hướng dẫn cộng đồng tự sản xuất dụng cụ trợ giúp thích nghi bằng tre, gỗ sẵn có tại địa phương, giúp người khuyết tật tự lập hơn trong di chuyển.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với chính quyền địa phương và ngành Y tế tỉnh Đồng Nai: Cần duy trì, củng cố và nhân rộng mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng lấy người chăm sóc chính làm hạt nhân ra các xã còn lại của huyện Thống Nhất và các huyện khác trong tỉnh; kiện toàn Ban điều hành CBR các cấp.
- Đối với trạm y tế xã và y tế thôn bản: Lồng ghép hoạt động quản lý, theo dõi người khuyết tật vào chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu; duy trì việc tập huấn, giám sát định kỳ kỹ thuật PHCN cho NCSC.
- Đối với cộng đồng và xã hội: Xóa bỏ rào cản phân biệt đối xử, hỗ trợ sinh kế, tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận công trình công cộng, trường học và các tổ chức đoàn thể xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
Theo phạm vi và nội dung được trình bày trong luận án:
- Nghiên cứu can thiệp mới chỉ tiến hành tại 04 xã (02 xã can thiệp, 02 xã đối chứng) thuộc một huyện đại diện (huyện Thống Nhất), chưa thể bao quát toàn bộ các vùng địa lý, kinh tế - xã hội khác nhau của toàn tỉnh Đồng Nai.
- Nghiên cứu tập trung chuyên biệt vào nhóm khuyết tật vận động, chưa can thiệp mở rộng cho các dạng khuyết tật khác như khuyết tật giác quan (nhìn, nghe - nói), khuyết tật trí tuệ hay tâm thần.
- Thời gian theo dõi đánh giá hiệu quả dừng lại ở mốc 24 tháng; các tác động dài hạn về kinh tế hộ gia đình và tính duy trì bền vững của mô hình sau khi kết thúc hỗ trợ nghiên cứu cần được tiếp tục theo dõi.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng thử nghiệm mô hình can thiệp CBR toàn diện kết hợp đa dạng tật (vận động, nghe nói, nhìn, trí tuệ) trên quy mô toàn tỉnh.
- Tiến hành các nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế y tế (chi phí - hiệu quả, chi phí - lợi ích) của mô hình can thiệp CBR do người chăm sóc chính thực hiện so với các hình thức phục hồi chức năng tại bệnh viện.
- Nghiên cứu xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính, bảo hiểm y tế và dịch vụ công tác xã hội gắn kết với mạng lưới phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Y tế Công cộng, Y học Gia đình và Phục hồi chức năng: Tham khảo phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng theo thời gian ($T_0, T_{12}, T_{24}$), phương pháp tính cỡ mẫu, quy trình thu thập dữ liệu định lượng kết hợp định tính và cách ứng dụng chỉ số hiệu quả (CSHQ).
- Giảng viên và cán bộ đào tạo tại các trường Đại học, Cao đẳng Y Dược: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy thực tiễn về môn học Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, Y tế công cộng và Tổ chức quản lý y tế.
- Cán bộ quản lý y tế và các nhà hoạch định chính sách (Sở Y tế, Phòng Y tế, Trung tâm Y tế huyện): Tham khảo quy trình xây dựng mạng lưới can thiệp CBR, phương thức phối hợp liên ngành và giải pháp khắc phục tình trạng thiếu hụt nhân lực chuyên khoa tại tuyến y tế cơ sở.
- Cán bộ trạm y tế xã, cộng tác viên y tế thôn bản và người chăm sóc: Tham khảo các nội dung hướng dẫn thực hành kỹ thuật phục hồi chức năng sinh hoạt, vận động và phương pháp chế tạo dụng cụ trợ giúp tự thích nghi bằng vật liệu tại chỗ.
Câu hỏi thường gặp
1. Địa bàn và quy mô mẫu nghiên cứu của luận án được triển khai như thế nào?
Nghiên cứu được triển khai tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Giai đoạn mô tả cắt ngang khảo sát trên toàn bộ 10 xã với 670 người khuyết tật vận động và 670 người chăm sóc chính. Giai đoạn can thiệp có đối chứng chọn 04 xã với tổng cộng 275 cặp đối tượng: 02 xã can thiệp (Bàu Hàm 2 với 114 cặp, Lộ 25 với 27 cặp, tổng $n=141$) và 02 xã đối chứng (Gia Kiệm với 55 cặp, Xuân Thạnh với 79 cặp, tổng $n=134$).
2. Tác giả đã sử dụng thang đo và khung lý thuyết nào để đánh giá nhu cầu của người khuyết tật vận động?
Tác giả ứng dụng khung Phân loại Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) của WHO kết hợp với tháp 5 bậc nhu cầu của Maslow, sử dụng bảng kiểm 23 nhu cầu thiết yếu chia thành 04 lĩnh vực (sinh hoạt, giao tiếp, vận động, hòa nhập) do Trần Trọng Hải cải biên (1996) với thang điểm 3 mức: Mức 0 (Không phụ thuộc), Mức 1 (Phụ thuộc một phần), Mức 2 (Phụ thuộc hoàn toàn).
3. Luận án chỉ ra thực trạng bất hợp lý nào về phân bố nhân lực phục hồi chức năng tại Việt Nam?
Theo số liệu tổng quan của luận án, sự phân bố nhân lực phục hồi chức năng tại Việt Nam có sự mất cân đối lớn: tuyến xã tập trung tới 75% đến 80% người khuyết tật nhưng có 0% cán bộ chuyên khoa phục hồi chức năng; trong khi đó tuyến trung ương chỉ có 1% đến 5% nhu cầu người bệnh nhưng lại tập trung 79% đến 85% nhân lực chuyên khoa.
4. Mô hình can thiệp của luận án tập trung tác động vào đối tượng nào và thời gian đánh giá ra sao?
Mô hình can thiệp tập trung trực tiếp vào Người chăm sóc chính (NCSC) tại hộ gia đình thông qua việc tập huấn, hướng dẫn thực hành kiến thức và kỹ thuật phục hồi chức năng, tư vấn cải tạo môi trường sống và tự làm dụng cụ trợ giúp bằng tre gỗ. Hiệu quả can thiệp được theo dõi và đánh giá tại 03 thời điểm: trước can thiệp ($T_0$), sau 12 tháng ($T_{12}$) và sau 24 tháng can thiệp ($T_{24}$).
5. Các tiêu chuẩn bệnh lý nào được chọn vào nhóm người khuyết tật vận động trong nghiên cứu?
Nghiên cứu lựa chọn những người bị khiếm khuyết, giảm khả năng về vận động sinh sống tại địa bàn được chẩn đoán: bại não, bàn chân khoèo, teo cơ, gù, cong vẹo cột sống, trật khớp háng bẩm sinh, tổn thương tủy sống, liệt nửa người do tai biến mạch máu não, thoái hóa khớp, cụt chi, có chân tay giả và các biến dạng hệ vận động khác.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y tế công cộng của tác giả Nguyễn Hồng Quang đã phản ánh bức tranh dịch tễ học về người khuyết tật vận động và người chăm sóc chính tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai năm 2017. Thông qua thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng kéo dài 24 tháng, công trình đã chứng minh mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng lấy người chăm sóc chính làm trung tâm đem lại hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện kỹ năng chăm sóc, nâng cao mức độ độc lập sinh hoạt, vận động và hòa nhập xã hội cho người khuyết tật. Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ công tác hoạch định chính sách an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại tuyến y tế cơ sở.