Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA TRẺ 5 - 6 TUỔI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài 1. Các nghiên cứu về kỹ năng Trên thế giới, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về kỹ năng nói chung và kỹ năng của trẻ nói riêng.
Qua tìm hiểu, phân tích các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài chúng tôi thấy, các nghiên cứu tập trung theo hai khuynh hướng: - Hướng thứ nhất: Nghiên cứu kỹ năng như một thành phần trong phẩm chất của mỗi con người. Nhà tâm lý học E.Milerian (người Áo), coi kỹ năng như một thành phần, một mức độ nguồn lực của con người, điều kiện hình thành kỹ năng là tri thức và kinh nghiệm trước đó. Như vậy, theo ông kỹ năng không phải tự nhiên mà có, kỹ năng được hình thành và phát triển dựa trên sự tích lũy tri thức và kinh nghiệm cá nhân. - Hướng thứ hai: Nghiên cứu kỹ năng như một biểu hiện năng lực con người.
Theo một số nhà tâm lý học sư phạm, họ coi kỹ năng là một biểu hiện của năng lực, làm rõ khái niệm kỹ năng, kỹ xảo, mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo.Theo các tác giả này cơ sở của kỹ năng là tri thức và kinh nghiệm cá nhân.Levitov [34], [10] thì kỹ năng có hai loại là kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao. Xavier Roegiers xem kỹ năng như một biểu hiện của năng lực. Theo tác giả này, không có một kỹ năng nào tồn tại dưới dạng thuần khiết và mọi kỹ năng đều được biểu hiện qua nội dung cụ thể. Trong những năm gần đây khi đề cập tới kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng nghề nghiệp người ta không chỉ dừng ở tiêu chí kết quả chính xác, khả năng linh hoạt, mà còn xem xét các yếu tố thái độ, động cơ của cá nhân trong thực hiện hành động có kỹ năng đó.
Cách tiếp cận này xem xét kỹ năng ở góc độ rộng hơn khi nó kết nối các yếu tố kiến thức, kỹ thuật và giá trị (thái độ, niềm tin) trong hành vi của một hoạt động nhất định. Cho rằng, mọi hành vi của con người đều xuất phát từ cách mà người ta suy nghĩ, tác giả J.Richard coi kỹ năng là những hành vi được thể hiện ra hành động bên ngoài 6 và chịu sự chi phối cách thức con người cảm nhận và suy nghĩ. Mặc dù ghi nhận hành vi có kỹ năng là khả năng lựa chọn những kiến thức, kỹ thuật thích hợp và sử dụng chúng có hiệu quả, song S.Bartte Hariet (1970) nhấn mạnh sự lựa chọn đó chịu ảnh hưởng của thái độ, niềm tin của cá nhân đối với hoạt động cụ thể. Đây là một xu hướng khá mới về quan niệm kỹ năng.Quan điểm này tương đối phù hợp cho nghiên cứu những kỹ năng chuyên sâu trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn.
Như vậy, vấn đề hình thành kỹ năng được nhiều nhà tâm lý học trong và ngoài nước quan tâm.Mỗi tác giả, mỗi trường phái có những ý kiến khác nhau song đều thống nhất với nhau rằng kỹ năng được hình thành trong hoạt động. Kỹ năng được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn với các mức độ từ thấp tới cao. Mức độ thấp là những kỹ năng nguyên phát - dạng kỹ năng đơn giản, tương ứng với những thao tác của hành động nhất định. Mức độ cao là các kỹ năng thứ phát - là tập hợp của nhiều yếu tố để tạo nên kỹ năng phức hợp, nâng cao.
Các nghiên cứu về kỹ năng tự nhận thức - Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về kỹ năng tự nhận thức là kỹ năng sống cần thiết. Trong công trình “Vấn đề tự ý thức trong tâm lý học (1977)”I.Trexnôcôva cho rằng tự nhận thức là một thành phần trong cấu trúc của tự ý thức, trong cấu trúc đó gồm 3 mặt thống nhất: nhận thức (tự nhận thức), cảm xúc - giá trị (thái độ đối với bản thân) và hành động - ý chí, điều khiển (tự điều chỉnh). Việc hình thành và rèn luyện kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ được I.Trexnôcôva cho là kỹ năng sống rất cần thiết đối với trẻ. [50] Nhà tâm lý học người Mỹ D.Mead cho rằng, trong mối tương tác với những người khác trong quá trình hoạt động của mỗi con người trở thành khách thể nhận thức của chính mình.
Nhận thức bản thân không được thực hiện trực tiếp mà gián tiếp qua thái độ của cá nhân đó với những người khác trong nhóm người hoặc toàn bộ nhóm nói chung. Ông cho rằng, nguồn gốc hình thành tự ý thức là trò chơi của trẻ.Đầu tiên đó là những trò chơi lặp lại hành động của người lớn.Thông qua hoạt động vui chơi, trẻ đã dần hình thành kỹ năng sống đầu tiên, cơ bản cần thiết cho trẻ. - Hướng thứ hai: Nghiên cứu về kỹ năng tự nhận thức ở trẻ mầm non 7 Freud [45, tr47] cho rằng: Nhân cách con người gồm ba cấp: cái “Nó”, cái “Tôi”, và cái “Siêu tôi”. Cái “Nó” gồm tất cả những xung lực bản năng thôi thúc đứa trẻ đòi hỏi được thỏa mãn để tìm khoái cảm.Về nguồn gốc, cái “Nó” là một hệ thống các nhu cầu có sức mạnh và động lực nhất định.Mâu thuẫn giữa đứa trẻ và thực tế dần dần tạp ra cái “Tôi”, trẻ cảm nhận về bản thân mình đối lập với các đồ vật và những đồ vật và những người khác, tức là cảm nhận được thực tế.
Đó là nguồn gốc của cái “Tôi”, sau này chính là phần ý thức của con người biết suy nghĩ và đòi hỏi thực tế chứ không phải theo dục vọng của bản thân. Những cấm đoán mệnh lệnh, khuyên bản của người lớn dần dần được nhập tâm và biến thành vô thức chi phối hành vi của trẻ, đó là cái “Siêu tôi”. Freud cho rằng: việc xuất hiện cái “Siêu tôi” vừa là một sự kiện mang tính chất cá nhân vừa có tính chất lịch sử. Cái “Siêu tôi” được tạo ra và hoạt động như đại diện cho các lực lượng kiềm chế của cha mẹ và đảm nhiệm chức năng kiểm soát cái “Tôi”.
Vấn đề hình thành kỹ năng nhận thức không chỉ có Freud nghiên cứu mà còn được nhiều nhà tâm lý học trong và ngoài nước quan tâm.Mỗi tác giả, mỗi trường phái có những ý kiến khác nhau song đều thống nhất với nhau rằng kỹ năng được hình thành trong hoạt động. Kỹ năng tự nhận thức được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn với các mức độ từ thấp tới cao. Ngoài ra, vấn đề kỹ năng nhận thức đã được các nhà khoa học trên thế giới khác quan tâm và nghiên cứu như: Có tác giả Xavier Rogier và tác giả Jean Marie Deketel nghiên cứu xác định các kỹ năng cơ bản và có tác giả Bloom Dhainer đã xác định các mức độ nhận thứ của con người qua đó giúp tìm ra các kỹ năng nhận thức cần thiết và rất nhiều các tác giả khác. Một số tác giả như: Jean Marie Deketel nghiên cứu các kỹ năng nhận thức cơ bản của con người, Bloom, Phainer đã xác định các mức độ nhận thức của con người qua đó giúp ta tìm ra những kỹ năng nhận thức cần thiết.
Tóm lại, vấn đề kỹ năng tự nhận thức đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, đưa ra các hướng nghiên cứu và đã đóng góp rất nhiều trong lĩnh vực này nhưng vẫn chưa đi sâu vào từng nội dung cụ thể của vấn đề tự nhận thức bản thân. Những nghiên cứu ở Việt Nam 1. Các nghiên cứu về kỹ năng Ở trong nước cũng có những nghiên cứu về kỹ năng, đại diện là các tác giả Phạm Minh Hạc, Trần Quốc Thành, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Quang Uẩn… [18], 8 [51]cho rằng quá trình hình thành kỹ năng gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và cách điều kiện hành động; Giai đoạn 2: Quan sát và làm thử theo mẫu; Giai đoạn 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đặt ra. Theo các tác giả này, việc nhận thức mục đích, cách thức và điều kiện hành động cực kỳ quan trọng.
Vì mục đích là kết quả hành động mà người ta dự kiến trước khi bắt tay vào hành động. Trên cơ sở xác định mục đích hành động, người ta sẽ lập kế hoạch và tìm các điều kiện, biện pháp phù hợp để đạt được mục đích.Như vậy, đây chỉ là bước định hướng hành động. Nếu dừng lại ở bước này thì chưa có kỹ năng, vì nó chỉ thể hiện mặt lý thuyết, tri thức về hành động, chứ chưa có mặt kỹ thuật, thao tác thực tiễn của hành động để đạt mục đích đề ra. Giai đoạn làm thử theo mẫu cũng không kém phần quan trọng.
Ở giai đoạn này con người một mặt thực hiện thao tác theo mẫu để hình thành kỹ năng, một mặt con người đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao tác, hành động nhằm đạt được kết quả giảm bớt những sai sót trong quá trình hành động. Tùy theo khả năng của từng người mà độ sai sót nhiều hay ít, giai đoạn làm thử dài hay ngắn. Sau khi làm thử để nắm vững cách thức hành động, người ta phải tiến hành luyện tập để hoàn thiện kỹ năng.Ở giai đoạn này các tri thức về hành động được củng cố nhiều lần, cách thức hành động cũng được ôn luyện có hệ thống làm cho người ta nắm chắc hành động hơn.Đến đây có thể nói, kỹ năng đã được hình thành.Tuy nhiên, kỹ năng vẫn chưa ổn định.Nhiều khi, người ta có thể đạt được kết quả cần thiết song vẫn còn những sai sót, vấp váp trong hành động.Kỹ năng thực sự ổn định khi người ta hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau. Việc luyện tập đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện luyện tập, tính hệ thống của nhiều quá trình luyện tập, đặc biệt là sự nỗ lực của cá nhân.
Quan điểm trên đây đã chỉ ra những yêu cầu cần thiết của việc hình thành kỹ năng hành động: nhận thức và triển khai nó trong thực tiễn. Các nghiên cứu về kỹ năng tự nhận thức Theo tâm lý học phát triển, nhóm tác giả Dương Thị Diệu Hoa, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Kế Hào, Phan Trọng Ngọ, Đỗ Thị Hạnh Phúc [21] cho rằng: dấu hiệu đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách là sự xuất hiện của tự ý thức, còn được gọi là “cái tôi” hay ý thức bản ngã, tức là tự nhận thức, tự ý thức về bản thân mình.