Đặt vấn đề Từ bao đời nay, nhân dân ta đã có tập quán chăn nuôi lợn, con lợn luôn giữ vị trí hàng đầu về tỷ trọng và giá trị trong các loài vật nuôi. Với chức năng vừa là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, vừa là nguồn cung cấp phân bón, tạo điều kiện cho ngành trồng trọt phát triển, chăn nuôi lợn đã góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống của người nông dân. Để tạo ra được nhiều thịt lợn phục vụ cho nhu cầu thực phẩm trong nước và xuất khẩu, việc nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái luôn là mối quan tâm, mục tiêu hàng đầu của các nhà chăn nuôi và các nhà khoa học. Trong những năm gần đây, năng suất sinh sản của lợn nái ở nước ta đã có nhiều cải thiện nhờ chất lượng con giống được nâng cao và chọn lọc tốt, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái dần được hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi.
Do đó, đã góp phần nâng cao số lứa đẻ của nái/năm từ 1,7-2 lứa/nái/năm lên 2,0-2,45 lứa/nái/năm. Bình quân số lợn con cai sữa/nái/năm xấp xỉ 13 con/nái. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực đặc biệt đối với các nước chăn nuôi tiên tiến thì năng suất sinh sản của lợn nái nội nước ta còn thấp. Trong những năm gần đây thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng - vật nuôi, từ đó chăn nuôi lợn đã phát triển khá nhanh.
Muốn có con giống đảm bảo bảo chất lượng, đàn lợn nái phải khỏe mạnh, không mắc bệnh đặc biệt là bệnh về sinh sản. Một số bệnh ở lợn nái đã có vacxin phòng bệnh và phương pháp điều trị đạt kết quả tốt, tuy nhiên bệnh ở đường sinh sản vẫn đang là mối đe dọa lớn cho người chăn nuôi lợn nái. Mặc dù, các hộ chăn nuôi đã sử dụng 2 kháng sinh điều trị và các biện pháp phòng bệnh bằng chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại. nhưng bệnh vẫn thường xuyên xảy ra và gây tổn thất lớn cho các cơ sở chăn nuôi lợn nái sinh sản; vì vậy việc tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân gây bệnh trên đàn lợn nái và biện pháp phòng chống là vấn đề cấp bách, giúp cho người chăn nuôi lợn sinh sản yên tâm, góp phần thúc đẩy chăn nuôi lợn phát triển có hiệu quả và bền vững.
Theo các nhà khoa học, một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở nước ta hiện nay đó là hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa hay còn gọi là hội chứng M.A do nhiều nguyên nhân gây ra: bao gồm các vi khuẩn cơ hội như Salmonella, E.coli, Bruccella, Streptococcus. Bên cạnh đó, điều kiện vệ sinh chăn nuôi kém, quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng không đảm bảo. tất cả các nguyên nhân trên cùng gây ra triệu chứng con vật bị viêm tử cung, viêm vú và mất sữa.A làm giảm khả năng sinh sản của lợn nái ở các chu kỳ sau, lợn con không đủ sữa bú, giảm tăng trưởng, tăng tỷ lệ lợn con chết ở giai đoạn theo mẹ… Khi lợn nái bị viêm tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn như E.coli, Salmonella, Staphylococus, Streptococus…tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết Prolactin - Kích thích tố tạo sữa từ tuyến yên, lợn nái bệnh ít hoặc mất hẳn sữa, lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc. Mặt khác, khả năng động dục trở lại sau khi sinh của lợn nái bệnh kém vì sự phân tiết PGF2α giảm, thể vàng tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone, ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được.A thường xảy ra vào thời kỳ sau khi sinh và có các triệu chứng toàn thân như: Sau khi sinh 12-24 giờ lợn nái có biểu hiện sốt cao 40-410C, mệt mỏi, bỏ ăn, giảm uống nước, táo bón, thường hay nằm sấp không cho lợn con bú do vú bị viêm, sưng và đau; xuất hiện triệu chứng cục 3 bộ như: bầu vú vị viêm, cứng và có biểu hiện đau, âm đạo chảy ra chất dịch lợn cợn, có mùi hôi, nếu bị viêm nặng sẽ chảy ra dịch có lẫn mủ, lợn con theo mẹ không có sữa bú, kêu la, da khô, lông dựng và hầu hết bị tiêu chảy.A làm tăng tỷ lệ sảy thai, thai chết lưu, tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp, số lượng lợn con sinh ra/lứa, trọng lượng sơ sinh/con, số con sống sót sau cai sữa/lứa thấp… dẫn đến tăng chi phí về thức ăn, chẩn đoán và điều trị bệnh, gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi, hội chứng M.A làm cho con vật kéo dài thời gian động dục trở lại, giảm tỷ lệ thụ thai, giảm số lượng con sinh ra trong một lứa, giảm số lứa trên năm, giảm khối lượng sơ sinh… dẫn đến hậu quả nái sinh sản phải bị loại bỏ sớm.
Hiện nay, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng M.A xảy ra trên đàn lợn nái, qua điều tra và thực tế sản xuất, đồng thời để góp phần vào việc hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra, đảm bảo sản xuất chăn nuôi lợn nái nội phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa trên đàn lợn nái tại trại Ngô Hồng Gấm huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình và biện pháp điều trị.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá được thực trạng hội chứng M.A (viêm tử, viêm vú, mất sữa) ở đàn lợn nái tại trại Ngô Hồng Gấm huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. - Đánh giá được ảnh hưởng của hội chứng M.A đến năng suất sinh sản của lợn nái. Ý nghĩa khoa học - Thông qua nghiên cứu làm cơ sở đề xuất các biện pháp phòng, chống bệnh hiệu quả. Ý nghĩa thực tiễn - Nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn nái nuôi theo mô hình trang trại.
- Đề xuất các biện pháp phòng, chống bệnh hiệu quả. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.A ở lợn nái sinh sản Có hai quan điểm về sử dụng thuật ngữ hội chứng M. Theo Đặng Đắc Thiệu (1978) [20]; Lê Minh Chí và cs (1985) [2]; Berstchinger (1993) [25]; Ross (1981) [37]; Smith (1995) [38]; Mercy (1990) [34]; Radostits và cs (1997) [36], những biểu hiện lâm sàng sau khi sinh ở lợn nái từ 12 - 72 giờ bao gồm hiện tượng sốt (Persson và cs,1989) [35], tử cung tiết nhiều dịch viêm (viêm tử cung); vú sưng cứng, nóng và đỏ lên (viêm vú); sữa giảm hay mất sữa (kém hay mất sữa) được gọi là hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (Gardner và cs, 1990) [29]. Trên từng cá thể, có thể bệnh xuất hiện với từng triệu chứng riêng biệt hoặc kết hợp 2 - 3 triệu chứng cùng lúc, trong đó chứng viêm tử cung thường xuất hiện với tần số cao (Lê Minh Chí, 1985) [2].
Tuy nhiên theo Taylor (1995) [41], hội chứng M.A phải là sự kết hợp cả 3 chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa trên cùng một cá thể lợn nái (trích dẫn bởi Nguyễn Như Pho, 2002) [16]. Trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ hội chứng M.A theo quan điểm của các tác giả Đặng Đắc Thiệu (1978) [20]; Lê Minh Chí (1985) [2]; Berstchinger (1993) [25] để diễn tả những cá thể bị viêm tử cung kèm theo mất sữa hoặc viêm tử cung kèm viêm vú được xem là mắc hội chứng M.A trên lợn nái sau khi sinh (trường hợp lợn nái bị viêm vú kèm theo mất sữa chúng tôi không nghiên cứu vì heo nái mắc triệu chứng này do nhiều nguyên nhân). Trường hợp cả ba triệu chứng xuất hiện trên cùng một cá thể được gọi là thể điển hình của hội chứng M. Bệnh viêm tử cung ở lợn nái (Metritis) 2.
Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung Theo Đào Trọng Đạt và cs (2000) [8], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau: 5 Thao tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm. - Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ. - Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát. - Lợn nái sau đẻ bị sát nhau, xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung.
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm. - Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm. Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động đực (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung. Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung.
Hậu quả của bệnh viêm tử cung Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con. 6 Để đánh giá hậu quả của bệnh viêm tử cung đối với sản xuất chăn nuôi lợn rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra các nhận xét có ý nghĩa rất lớn cho quá trình chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh. Lợn nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: Nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú.