Chương 1 GIÁO DỤC Ở KHU VỰC TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC (1989 - 1995) 1. Những nhân tố tác động đến giáo dục ở khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc trong những năm 1989 - 1995 Khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc tính đến năm 1991 có 13 tỉnh, bao gồm Hà Giang, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Cao Bằng, Bắc Thái, Lạng Sơn, Lai Châu, Hòa Bình, Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Hà Bắc. Tổng dân số trung bình cả nước là 67774,1 nghìn người, trong đó dân số trung bình khu vực là 11565,8 nghìn người [21, tr. Vùng tập trung chủ yếu là dân tộc ít người như: Tày, Nùng, Dao, Thái, Mường…Đây không chỉ là nơi có vị trí chiến lược cách mạng quan trọng trong lịch sử đất nước mà nơi đây còn là vùng giàu tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái phong phú và đa dạng giúp phát triển nền kinh tế - xã hội.
Sau khi đất nước tiến hành đổi mới năm 1986, được sự quan tâm sát xao của Đảng cùng với đó là mọi nỗ lực cố gắng của nhân dân các địa phương trên địa bàn của khu vực, đã đạt được những thành tựu vượt bậc trên nhiều lĩnh vực trong đó phải kể đến đó là giáo dục. Thực trạng giáo dục ở khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc trước năm 1989 Tính đến năm 1989, nước ta đã đi qua 3 cuộc cải cách giáo dục: cuộc cải cách lần thứ nhất diễn ra bắt đầu từ năm 1950, mục đích nhằm xây dựng một nền giáo dục của dân và vì dân; lần thứ 2 bắt đầu từ 1956, nhằm hướng tới đào tạo ra những thế hệ thanh niên có đủ năng lực và phẩm chất tốt, có cả đức và tài; và cuộc cải cách lần thứ 3 bắt đầu từ 1979, đã tiến hành cải cách toàn diện về mục tiêu, nội dung, nguyên lý, phương pháp và cơ cấu hệ thống giáo dục, đào tạo; đặc biệt trong thời gian này hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm đã được hình thành trong cả nước. Qua các đợt cải cách giáo dục nói trên, mỗi cuộc cải cách đổi mới giáo dục thì đều có nội dung, tính chất phù hợp với xu thế phát triển của đất nước nói chung và thế giới nói riêng, đã phản ánh kết quả khả quan cả về thành tựu cũng như hạn chế của công tác giáo dục nước nhà. Xét về mặt bằng chung của cả nước thì tỉ lệ biết chữ đã tăng lên đáng kể và tỉ lệ mù chữ đã dần giảm xuống ở mức tương đối, nhờ vậy phần nào đã xóa bỏ nạn mù 9 c chữ, nâng cao dần trình độ dân trí cho người dân được thể hiện rõ qua bảng số liệu dưới đây: Bảng 1: Tổng số người mù chữ từ 10 tuổi trở lên qua 2 đợt tổng điều tra dân số của nước ta năm 1979, 1989 Đơn vị: nghìn người (%) Năm 1979 Năm 1989 Biết chữ Mù chữ Biết chữ Mù chữ Nam 16086 (90%) 1620 (10%) 19854 (93%) 15337 (7%) Nữ 15816 (84%) 1817 (19%) 20512 (84%) 3854 (16%) Tổng số 31902 (85%) 5437 (15%) 40366 (88%) 5391 (12%) Nguồn: Tổng cục Thống kê: Tổng điều tra dân số Việt Nam, “Kết quả điều tra mẫu” năm 1979, 1989.
Nhưng điều đáng lo ngại ở đây là mặc dù tổng số người mù chữ trong cả nước không lớn nhưng phần đông trong số họ lại sinh sống tập trung ở những vùng xa xôi, hẻo lánh ở miền núi cao. Do vậy, tỷ lệ biết chữ của khu vực còn thấp so với các vùng khác trong cả nước. Chẳng hạn, ở Hà Giang, Tuyên Quang, tổng số người mù chữ trong độ tuổi 15 – 35 chiếm 34% nhưng con số tương tự ở những huyện vùng cao của tỉnh này đều trên 50% rất nhiều, Ở Tuyên Quang có nhiều xã trắng về giáo dục, số người mù chữ còn lớn. Trong năm học đầu tiên sau khi đất nước thống nhất 1975 – 1976, quy mô học sinh trong cả nước là 10.831 nghìn học sinh tham gia học tập ở cả ba cấp học.
Đến năm 1985 – 1986 số học sinh tham gia học tập của cả nước đã lên đến 12.034 nghìn học sinh [19, tr. Tuy nhiên ở khu vực miền xuôi, trẻ em trong độ tuổi đến trường tham gia học tập đạt khoảng 98% thì ở Miền núi, trung du chỉ đạt 80%. Số trẻ em trong độ tuổi đi học tập trung nhiều ở đồng bằng chiếm 70%, còn miền núi phía Bắc, mới có từ 50 – 60% số trẻ em đi học. Ở vùng cao, biên giới phía Bắc tỷ lệ này còn thấp hơn (từ 20 -30%), nhiều xã chỉ có đến lớp 2 từ nhiều năm nay.
Đáng chú ý nhất là học sinh bị lưu ban còn chiếm tỉ lệ cao” [26, tr. Tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học giữa các địa bàn, khu vực khác nhau cũng có sự chênh lệch. Ở những tỉnh thuộc khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa do điều kiện khó khăn về mọi mặt nên tỷ lệ này còn khá cao. Trái lại, ở những tỉnh, thành 10 c phố nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển thì tỷ lệ này chỉ duy trì ở mức thấp hơn.
Điều này đã được minh chứng qua một số tỉnh, thành phố điển hình như tại Hà Nội “tỷ lệ học sinh lưu ban và bỏ học lần lượt là 4,77% và 4,17%. Ngược lại ở các tỉnh miền núi như Hà Tuyên tỷ lệ này lần lượt là 8,65% và 25,79%, tại Lai Châu là 11,83%, và 30,36%” [20, tr. Tại một số tỉnh, nhiều trường đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và đang đi vào giai đoạn phổ cập giáo dục cấp trung học cơ sở thì ở một số địa bàn thuộc các tỉnh thuộc khu vực Miền núi, trung du do điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, vì vậy công việc phổ cập giáo dục tiểu học của vùng còn hạn chế. Điển hình ở một số tỉnh thuộc vùng miền núi, các tỉnh khu vực phía Bắc dao động trong khoảng 20 – 30%.
Cũng có những xã trẻ em chưa học qua lớp 2 [4, tr. Ở tỉnh Yên Bái vào những năm 1987 – 1988, học sinh cấp II bỏ học trên 22,4%. Cơ sở vật chất - kỹ thuật có những bước tiến lớn trong việc xây dựng, sửa chữa, nâng cấp và bảo vệ. Tính đến năm 1985 các tỉnh của khu vực đã có hàng vạn trường được xây dựng, rải khắp địa bàn của cả nước.
Ở tỉnh Lạng Sơn trong năm học 1985 – 1986 đã có “17 trường cấp III ở tất cả các huyện, thị. Các xã đều có trường phổ thông cơ sở, trên địa bàn tỉnh có 9 trường phổ thông lao động, 3 trường dân tộc nội trú ở các huyện, 1 trường phổ thông lao động, 1 trường văn hóa tại tỉnh” [1, tr. Tuy nhiên cơ sở vật chất, hệ thống trường, lớp nói chung sau năm 1975 vẫn còn nghèo nàn và thiếu thốn như hệ thống trường, lớp học kiên cố chưa có nhiều chủ yếu được xây dựng một cách tạm bợ, vật liệu xây dựng nên chủ yếu được làm từ tre, nứa, lá; số phòng, lớp học thiếu, trong khi đó số lượng học sinh ngày một tăng qua các năm, vì vậy học sinh phải học gộp hoặc tăng ca, có nơi còn một số trường học ba ca/ một ngày, lớp học thiếu ánh sáng, kích thức bàn ghế không tương xứng với người học…; cơ sở kĩ thuật phục vụ quá trình học tập của học sinh cũng như quá trình dạy học của giáo viên không được đảm bảo, còn thiếu thốn, nơi có ít dụng cụ thí nghiệm thì lại chưa dùng tốt, chưa bảo quản tốt. Chất lượng giáo dục còn kém, cách khá xa so với đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Ở các tỉnh, huyện miền núi xa xôi hẻo lánh thì nhiều khi số lượng sách giáo khoa thậm chí không có đủ cho học sinh, thiết bị dạy và học còn thiếu nhiều, nội dung chương trình mang tính truyền thống, nặng về lý thuyết hơn là thực tiễn, số lượng giáo viên căn bản còn thiếu trầm trọng, trình độ chưa cao,… do vậy chất lượng giáo dục thấp hơn nhiều so với các vùng khác của cả nước, có những lúc 11 c chất lượng giáo dục không bao giờ vượt qua mức 30%, chỉ đạt tầm 25 cho đến 30% [17, tr. Trong kí ức của mình, nhà giáo ưu tú Cao Văn Tư - nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai đã chia sẻ như sau: “những năm 80 và 90, đời sống kinh tế - xã hội ở Lào Cai rất khó khăn, gây trở ngại lớn cho sự nghiệp giáo dục. Ngày đó, số người mù chữ toàn tỉnh chiếm tới 52% dân số, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi ra lớp mới đạt 35,7%, đặc biệt toàn tỉnh có tới 14 xã trắng về giáo dục. Nhiều trường tiểu học ở vùng cao chỉ có lớp 1, lớp 2, rất ít trường hoàn chỉnh tới lớp 5.
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất trường, lớp học hết sức thiếu thốn, chủ yếu là nhà tranh, vách đất, bàn ghế được ghép từ những thanh tre, nứa, vầu. Nhưng khó khăn nhất vẫn là số lượng đội ngũ giáo viên, bởi những năm 80 có nhiều giáo viên bỏ việc, chuyển vùng”[34]. Tựu chung lại, trước năm 1989 tình hình giáo dục của khu vực đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Năm 1975, nước ta hoàn thành thống nhất đất nước, tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh trước và sau đó là chiến tranh Biên giới phía Bắc năm 1979, một số hệ thống trường lớp xây dựng trong thời kì trước đã bị phá hủy, không được cải tạo hoặc xây dựng lại do vậy không đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh đặc biệt là khi số lượng học sinh ngày càng tăng lên qua các năm, nó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học.
Ở các vùng sâu, vùng xa của khu vực do điều kiện kinh tế còn nghèo nàn, đời sống người dân vô cùng khổ cực cũng tác động một phần không nhỏ tới giáo dục, tình trạng lưu bạn, bỏ học diễn ra, công tác vận động học sinh đến trường còn nhiều khó khăn, số lượng trường lớp, giáo viên, trang thiết bị cũng như chính sách thu hút đầu tư còn nhiều hạn chế… 1. Tình hình kinh tế - xã hội ở khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc trong những năm 1989 – 1995 Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến lớn, sau gần 5 năm thực hiện đường lối đối mới (1986 – 1990), nước ta đã đạt được một số thành tựu cơ bản nhưng vẫn trong tình trạng lạc hậu, nghèo nàn.