Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình phát triển lịch sử của mỗi quốc gia, giáo dục và đào tạo luôn giữ vai trò cốt lõi trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Đối với Việt Nam, từ thời phong kiến, tư tưởng trọng nhân tài đã được khẳng định qua lời văn bia của Thân Nhân Trung: "Hiền tài là nguyên khí của đất nước". Kế thừa truyền thống đó, trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" (Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII), xác định phát triển nguồn nhân lực là động lực then chốt để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trung du và Miền núi phía Bắc là khu vực địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế và môi trường sinh thái. Đây là nơi cư trú lâu đời của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số (Tày, Nùng, Dao, Thái, Mường, H'Mông...). Bước vào thời kỳ đổi mới, giáo dục khu vực đã đạt được những chuyển biến nhất định, song vẫn tồn tại nhiều hạn chế: tỷ lệ mù chữ cao, chênh lệch giáo dục giữa miền núi và đồng bằng còn lớn, cơ sở vật chất trường lớp thiếu thốn, tỷ lệ học sinh lưu ban và bỏ học ở mức cao. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu tổng quát về giáo dục Việt Nam hoặc các báo cáo thống kê chuyên ngành, nhưng tính đến thời điểm nghiên cứu, chưa có một công trình khoa học lịch sử nào phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống thực trạng giáo dục tại khu vực này trong suốt giai đoạn 1989 – 2009.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hoài Linh (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2) xác định các nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ các nhân tố tác động đến nền giáo dục khu vực: bối cảnh kinh tế - xã hội, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục qua từng thời kỳ và quá trình triển khai thực tế.
- Tái hiện bức tranh thực trạng giáo dục của khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc qua hai giai đoạn 1989 – 1995 và 1996 – 2009 trên các mặt: quy mô mạng lưới trường lớp, số lượng học sinh, đội ngũ giáo viên, chất lượng đào tạo, tình hình biết chữ, tỷ lệ đi học đúng tuổi và trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật.
- Phân tích, đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế, bất cập còn tồn tại của giáo dục khu vực trong 20 năm đổi mới.
- Chỉ ra những tác động cơ bản của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng giáo dục ở khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc trong giai đoạn 1989 – 2009.
- Phạm vi không gian: Gồm 13 tỉnh theo phân vùng thống kê của Tổng cục Thống kê (Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Thái Nguyên/Bắc Thái, Bắc Kạn, Vĩnh Phúc/Vĩnh Phú, Quảng Ninh, Bắc Giang/Hà Bắc qua các thời kỳ điều chỉnh địa giới hành chính).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1989 – 2009. Mốc 1989 đánh dấu thời điểm nền kinh tế chuyển hẳn sang cơ chế thị trường và hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm được thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Mốc 2009 là thời điểm tổng kết chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn đổi mới, đồng thời là năm diễn ra cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 với nguồn dữ liệu thống kê chuyên khảo quy mô lớn.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận: Đề tài được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục - đào tạo, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các văn kiện định hướng quan trọng được khai thác gồm: Nghị quyết số 14-NQ/TW (1979) về cải cách giáo dục, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (1993), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1996) và Luật Giáo dục năm 1998.
- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng hai phương pháp chuyên ngành chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic nhằm tái hiện tiến trình biến đổi của giáo dục khu vực trong mối liên hệ mật thiết với bối cảnh kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, đề tài kết hợp các phương pháp liên ngành: phân tích và tổng hợp tư liệu, phương pháp thống kê học, phương pháp so sánh lịch sử và biểu đồ hóa dữ liệu.
- Nguồn dữ liệu:
- Nguồn tư liệu thống kê gốc: Dữ liệu từ Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê các năm 1989, 1991, 1992, 1995, 2000, 2009; ấn phẩm Chuyên khảo Giáo dục Việt Nam (khai thác từ kết quả điều tra mẫu 15% cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, kết hợp số liệu điều tra mẫu các năm 1989 và 1999).
- Nguồn văn kiện chính sách: Văn kiện Đảng toàn quốc và Nghị quyết Trung ương các giai đoạn 1991 – 1995, 1996 – 2000, 2001 – 2005, 2006 – 2010.
- Nguồn tài liệu nghiên cứu chuyên khảo: Các công trình tổng kết lịch sử giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Dân tộc học và các tác giả chuyên ngành (Phạm Minh Hạc, Bùi Minh Hiền...), cùng các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Giáo dục.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giáo dục ở khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc (1989 - 1995)
Chương 1 tập trung phân tích bối cảnh chuyển đổi bước đầu của nền giáo dục khu vực trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới:
- Những nhân tố tác động:
- Thực trạng trước năm 1989: Sau 3 cuộc cải cách giáo dục (1950, 1956, 1979), tỷ lệ mù chữ cả nước giảm (từ 15% năm 1979 xuống 12% năm 1989), nhưng người mù chữ tập trung chủ yếu ở vùng cao. Tại Hà Tuyên, tỷ lệ mù chữ độ tuổi 15 – 35 chiếm 34% (các huyện vùng cao trên 50%); Lào Cai có tỷ lệ mù chữ 52% dân số với 14 xã trắng về giáo dục. Tỷ lệ lưu ban, bỏ học ở miền núi rất cao (Lai Châu: lưu ban 11,83%, bỏ học 30,36%; Yên Bái giai đoạn 1987 – 1988 có trên 22,4% học sinh cấp II bỏ học). Cơ sở vật chất chủ yếu là tranh tre nứa lá, thiếu phòng học, nhiều nơi phải học ca ba.
- Kinh tế - xã hội (1989 – 1995): Khu vực bước đầu chuyển sang kinh tế hàng hóa, phát huy thế mạnh lâm nghiệp, cây công nghiệp, khai khoáng. Tuy nhiên, hạ tầng giao thông cách trở, tỷ lệ hộ nghèo cao. Lực lượng tham gia lao động chiếm tới 70,37% dân số toàn vùng năm 1995 (cao nhất cả nước), song chất lượng lao động còn thấp.
- Chủ trương của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết Đại hội VII (1991) và Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1993) khẳng định GD-ĐT là quốc sách hàng đầu, đề ra định hướng phổ cập cấp I, xóa mù chữ, đa dạng hóa loại hình trường lớp và ưu tiên đầu tư trường dân tộc nội trú cho vùng đồng bào thiểu số.
- Thực trạng giáo dục 1989 – 1995:
- Mở rộng quy mô trường, lớp và người học: Mạng lưới mầm non tăng từ 968 trường (9.151 lớp) năm học 1991 – 1992 lên 1.055 trường (12.031 lớp) năm học 1995 – 1996. Học sinh phổ thông tăng từ 2.008,9 nghìn học sinh lên 2.769,9 nghìn học sinh.
| Cấp học / Năm học |
1991 – 1992 (Lớp học) |
1995 – 1996 (Lớp học) |
1991 – 1992 (Học sinh - nghìn người) |
1995 – 1996 (Học sinh - nghìn người) |
| Phổ thông cơ sở cấp I (Tiểu học) |
51.384 |
66.064 |
1.543,9 |
1.899,0 |
| Phổ thông cơ sở cấp II (THCS) |
12.564 |
19.222 |
392,5 |
711,4 |
| Phổ thông trung học (THPT) |
1.988 |
3.590 |
72,5 |
159,6 |
| Tổng số phổ thông |
65.935 |
88.876 |
2.008,9 |
2.769,9 |
- Đội ngũ giáo viên: Giáo viên trực tiếp giảng dạy phổ thông tăng từ 79.217 người (năm 1991 – 1992) lên 99.099 người (năm 1995 – 1996). Trong đó, giáo viên tiểu học chiếm tỷ trọng áp đảo (62.926 người năm 1995 – 1996), gấp đôi giáo viên THCS (29.610 người) và gấp gần mười lần giáo viên THPT (6.563 người).
- Chất lượng giáo dục và thành tựu địa phương: Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông duy trì ở mức cao (tiểu học đạt 95%, THCS đạt 96,4%, THPT đạt 94,2% năm 1995 – 1996). Điển hình: tháng 8/1995, Tuyên Quang trở thành tỉnh miền núi đầu tiên đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học; tỉnh Lào Cai đến năm 1995 cơ bản xóa bỏ các "xã trắng về giáo dục".
- Hạn chế: Bậc mầm non thiếu cơ sở vật chất, đồ chơi; giáo viên mầm non đời sống khó khăn dẫn đến bỏ việc; tình trạng học sinh bỏ học ở các cấp phổ thông vùng sâu vùng xa vẫn diễn biến phức tạp.
Chương 2: Giáo dục ở khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc (1996 - 2009)
Chương 2 trình bày giai đoạn giáo dục khu vực vận hành trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập:
- Những nhân tố tác động:
- Kinh tế - xã hội: Khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, hình thành các vùng chuyên canh nông - lâm nghiệp và cơ sở công nghiệp chế biến, khai khoáng. Tuy nhiên, GDP toàn vùng năm 2002 chỉ chiếm 6,5% cả nước trong khi dân số chiếm 13,3%; GDP bình quân đầu người bằng 50% mức bình quân chung (riêng Tây Bắc chỉ đạt 37,5%); tỷ lệ hộ nghèo chiếm 15,2% (Lai Châu 37%, Bắc Kạn 26,05%). Địa hình hiểm trở, thiên tai thường xuyên và tình trạng di dân tự do tiếp tục gây áp lực lên phát triển xã hội.
- Chủ trương của Đảng: Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (1996), Văn kiện Đại hội VIII, IX và Luật Giáo dục 1998 đặt trọng tâm vào nâng cao chất lượng toàn diện, thanh toán nạn mù chữ cho độ tuổi 15 – 35, mở rộng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú tại các cụm xã và huyện.
- Thực trạng giáo dục 1996 – 2009:
- Tình hình biết đọc, biết viết (theo số liệu Tổng điều tra 2009): Tỷ lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên tại khu vực đạt 87,3%, thấp nhất trong các vùng kinh tế - xã hội cả nước (bình quân toàn quốc là 93,5%, Đồng bằng sông Hồng đạt 97,1%). Khoảng cách chênh lệch tỷ lệ biết chữ giữa thành thị và nông thôn của khu vực lên tới 11,6 điểm phần trăm (thành thị 97,0%, nông thôn 85,3%). Tỷ lệ biết chữ ở phụ nữ vùng cao nông thôn đặc biệt thấp: Lai Châu (29,2%), Điện Biên (25,9%), Sơn La (22,9%).
- Tình hình đi học: Tỷ trọng dân số từ 5 tuổi trở lên chưa bao giờ đi học chiếm 10,4% (cao nhất cả nước, gấp đôi mức bình quân toàn quốc 5,1%). Nữ giới chưa bao giờ đi học chiếm 14,1%, cao hơn gấp đôi nam giới (6,6%).
| Chỉ số giáo dục năm 2009 |
Toàn quốc (%) |
Trung du và Miền núi phía Bắc (%) |
Thành thị khu vực (%) |
Nông thôn khu vực (%) |
| Tỷ lệ biết chữ (dân số ≥ 15 tuổi) |
93,5 |
87,3 |
97,0 |
85,3 |
| Tỷ trọng đang đi học (dân số ≥ 5 tuổi) |
24,7 |
24,8 |
25,7 |
24,3 |
| Tỷ trọng đã thôi học (dân số ≥ 5 tuổi) |
70,2 |
64,8 |
71,6 |
69,5 |
| Tỷ trọng chưa bao giờ đi học (dân số ≥ 5 tuổi) |
5,1 |
10,4 |
2,4 |
11,9 |
- Tỷ lệ nhập học đúng tuổi: Năm 2009, tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở bậc tiểu học đạt 92,0% (thấp nhất trong 6 vùng), THCS đạt 77,2%, THPT đạt 48,6%, bậc Cao đẳng và Đại học đạt 5,7%. Tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở các tỉnh vùng sâu rất thấp: bậc THPT tại Lai Châu chỉ đạt 20%, Hà Giang đạt 25,7%; bậc Cao đẳng - Đại học tại Lai Châu đạt 1%, Lạng Sơn đạt 1,2%, Cao Bằng đạt 1,3%, Hà Giang đạt 1,4%.
- Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật: Dân số từ 5 tuổi trở lên có trình độ học vấn phân bố: chưa đi học (10,3%), chưa tốt nghiệp tiểu học (22,7%), tốt nghiệp tiểu học (25,6%), tốt nghiệp THCS (23,1%), tốt nghiệp THPT trở lên (18,3% - trong đó thành thị đạt 46,6%, nông thôn chỉ đạt 12,8%). Về trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân số từ 15 tuổi trở lên: sơ cấp nghề chiếm 2,4%, trung cấp chiếm 6,4%, cao đẳng chiếm 1,8%, đại học chiếm 2,7%, trên đại học chiếm 0,1%.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính:
- Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các số liệu lịch sử về mạng lưới trường lớp, quy mô học sinh, đội ngũ cán bộ giáo viên từ mầm non đến đại học của khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc qua hai mốc phát triển 1989 – 1995 và 1996 – 2009.
- Chứng minh được thành tựu căn bản của khu vực: khôi phục mạng lưới giáo dục sau chiến tranh biên giới, xóa điểm trắng giáo dục cấp xã tại các tỉnh khó khăn (Lào Cai, Tuyên Quang), hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và từng bước phổ cập THCS.
- Làm rõ các chỉ số phân hóa sâu sắc về giáo dục: bất bình đẳng giới tính trong tiếp cận giáo dục (tỷ lệ phụ nữ mù chữ vùng cao chiếm tỷ trọng lớn), phân hóa rõ nét giữa thành thị và nông thôn (tỷ lệ tốt nghiệp THPT trở lên ở thành thị gấp 3,6 lần nông thôn), tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn ở mức thấp.
- Giải pháp và kiến nghị rút ra từ nghiên cứu:
- Tăng cường nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật trường lớp, ưu tiên kiên cố hóa trường học và hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú tại các xã vùng cao, biên giới.
- Thực hiện các chính sách ưu đãi tài chính, chế độ phụ cấp thu hút giáo viên công tác lâu dài tại vùng khó khăn; đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên tại chỗ là người dân tộc thiểu số.
- Đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS và THPT, mở rộng đào tạo dạy nghề gắn liền với chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp địa phương.
- Đóng góp khoa học: Khóa luận là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam đầu tiên tái hiện một cách có hệ thống, dựa trên dữ liệu thống kê gốc và văn kiện lịch sử, bức tranh thực trạng giáo dục vùng Trung du và Miền núi phía Bắc trong hai thập niên đổi mới (1989 – 2009), bổ sung tư liệu nghiên cứu cho lịch sử kinh tế - xã hội và lịch sử giáo dục Việt Nam hiện đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về nguồn tư liệu thống kê của từng địa phương qua các lần chia tách tỉnh (như Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Lai Châu), một số số liệu chi tiết ở cấp huyện/xã chưa được phản ánh đồng đều qua từng năm; khóa luận tập trung chủ yếu vào diện mạo chung của toàn vùng và số liệu tại các tỉnh đại diện.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối so sánh sâu giữa hai tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc; phân tích chi tiết tác động của giáo dục đối với việc bảo tồn văn hóa và chuyển dịch cơ cấu lao động của từng nhóm dân tộc thiểu số cụ thể; tiếp tục kéo dài khung thời gian nghiên cứu từ năm 2010 đến giai đoạn hiện nay.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Giáo dục, Xã hội học, Quản lý giáo dục và Kinh tế phát triển.
- Người làm đề tài nghiên cứu về chính sách dân tộc, giáo dục vùng khó khăn và lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới.
- Phần có giá trị tham khảo cao nhất: Hệ thống bảng số liệu thống kê chi tiết về quy mô trường lớp, học sinh, giáo viên (1989 – 1995) và các chỉ số chuyên khảo dân số về trình độ học vấn, tỷ lệ đi học, trình độ chuyên môn kỹ thuật theo giới tính và khu vực cư trú năm 2009.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao khóa luận lựa chọn khung thời gian nghiên cứu từ năm 1989 đến năm 2009?
Năm 1989 là thời điểm nền kinh tế Việt Nam chuyển hẳn từ cơ chế quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường, đồng thời là năm thống nhất hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm trên phạm vi cả nước. Năm 2009 là thời điểm hoàn thành các mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn đổi mới và là năm thực hiện Tổng điều tra dân số và nhà ở toàn quốc với bộ dữ liệu chuyên khảo giáo dục hoàn chỉnh.
2. Thực trạng "xã trắng về giáo dục" ở vùng cao trước năm 1989 được giải quyết như thế nào trong giai đoạn 1989 – 1995?
Trước năm 1989, nhiều tỉnh có số xã trắng giáo dục lớn (như Lào Cai có 14 xã trắng giáo dục, Tuyên Quang có nhiều xã chưa có trường lớp). Nhờ các chính sách tập trung đầu tư, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và gắn lớp mẫu giáo với các trường phổ thông cấp I, đến năm học 1993 – 1994 Lào Cai đã khôi phục trường lớp tại 10 xã và đến năm 1995 toàn tỉnh không còn xã trắng về giáo dục; Tuyên Quang đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học vào tháng 8/1995.
3. Tỷ lệ biết đọc, biết viết của khu vực năm 2009 có đặc điểm gì nổi bật so với cả nước?
Năm 2009, tỷ lệ biết đọc biết viết của dân số từ 15 tuổi trở lên tại khu vực đạt 87,3%, thấp nhất cả nước (toàn quốc là 93,5%). Khu vực có mức chênh lệch biết chữ giữa thành thị và nông thôn cao nhất cả nước (11,6 điểm phần trăm). Tỷ lệ phụ nữ mù chữ tại một số tỉnh vùng cao nông thôn ở mức rất cao: Lai Châu (chỉ có 29,2% phụ nữ biết chữ), Điện Biên (25,9%), Sơn La (22,9%).
4. Sự chênh lệch về tỷ lệ nhập học đúng tuổi giữa các cấp học tại khu vực năm 2009 diễn ra như thế nào?
Càng lên các bậc học cao, tỷ lệ nhập học đúng tuổi của khu vực càng giảm mạnh: Tiểu học đạt 92,0%, THCS đạt 77,2%, THPT giảm xuống còn 48,6% và bậc Cao đẳng - Đại học chỉ đạt 5,7%. Tại các tỉnh vùng cao như Lai Châu, tỷ lệ nhập học đúng tuổi bậc THPT chỉ đạt 20%, bậc Cao đẳng - Đại học chỉ đạt 1,0%.
5. Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân số từ 15 tuổi trở lên tại khu vực vào năm 2009 đạt tỷ lệ bao nhiêu?
Dân số từ 15 tuổi trở lên của khu vực có trình độ chuyên môn kỹ thuật phân bố: sơ cấp nghề đạt 2,4%, trung cấp chuyên nghiệp đạt 6,4%, cao đẳng đạt 1,8%, đại học đạt 2,7% và trên đại học đạt 0,1%. Trình độ tốt nghiệp đại học ở thành thị (10,7%) cao gấp gần 10 lần so với khu vực nông thôn (1,1%).
Kết luận
Khóa luận "Thực trạng giáo dục ở khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc (1989 – 2009)" của tác giả Nguyễn Thị Hoài Linh đã phục dựng một cách chân thực, khách quan và có hệ thống tiến trình vận động của nền giáo dục vùng Trung du và Miền núi phía Bắc trong hai thập niên đầu đổi mới. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu lịch sử với phân tích dữ liệu thống kê định lượng, công trình đã làm sáng tỏ những nỗ lực xóa mù chữ, phổ cập tiểu học, mở rộng mạng lưới trường lớp, đồng thời chỉ rõ những rào cản về cơ sở vật chất, bất bình đẳng giới và chênh lệch phát triển giữa thành thị với vùng sâu vùng xa. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, cung cấp nguồn tư liệu lịch sử - thống kê xác thực cho việc nghiên cứu lịch sử giáo dục và hoạch định chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Việt Nam.