CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới Từ khi con người xuất hiện, đối tượng đầu tiên của họ là cây cỏ, con người đã sử dụng các cây cỏ để phục vụ cho cuộc sống của mình như làm thức ăn, nhà ở,… đặc biệt là làm thuốc chữa bệnh. Vì vậy, họ đã có nhiều kinh nghiệm về cây cỏ làm thuốc. Tuy nhiên sự hiểu biết về các cây thuốc và bài thuốc dân gian còn tùy thuộc vào mức độ phát triển của quốc gia đó.
Lịch sử nền y học Trung Quốc, Ấn Độ đều ghi nhận về việc sử dụng các cây cỏ làm thuốc cách đây 3000 – 5000 năm [20] là những cái nôi của nền y học nhân loại. Từ thế kỷ 11, người Trung Quốc đã biết dùng nước chè để rửa vết thương và tắm ghẻ, dùng rễ cây Cốt khí củ (Polygonum cuspidatum) dùng kết hợp với rễ và vỏ cây Táo tầu (Zizypus vulgaris) chữa vết thương mau lành, dùng các loại Nhân sâm (Chi Panax) để khôi phục ngũ quan, trấn tĩnh tinh thần., để chế ngự cảm xúc, chặn đứng kích động, giảm trừ lo âu, sáng mắt, khai sáng trí tuệ, gia tăng sức thông thái được sử dụng từ lâu ở Trung Quốc[17][24]. Ở các nước Nga, Đức. Trung Quốc đã dùng cây Mã đề sắc nước hoặc giã tươi đắp chữa trị vết thương, viêm tiết niệu, sỏi thân.
Đã từ lâu người Cu Ba dùng bột papain lấy từ cây đu đủ để kích thích hạt ở các vết thương phát triển. Y học Bungary đã coi hoa hồng là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta dùng hoa, lá, rễ làm tan huyết và chữa phù thũng. Ngày nay, khoa học đã chứng minh được trong hoa hồng có chứa một lượng tanin, glucosit, tinh dầu đáng kể.[20] Tinh dầu này không chỉ để điều chế nước hoa mà còn được dùng chữa bệnh. Ở Bắc Mỹ từ những thế kỷ trước, thổ dân da đỏ đã biết dùng củ cây để chữa bệnh nhiễm khuẩn và thuốc chế từ cây có chữa trị vết thương mưng mủ và vết rắn cắn.
Sau này Stoll và cộng sự đã tách được một glucosit còn gọi là Echiacoit, kiềm chế được tụ cầu gây hại. 8 Ở vùng Đông Nam Á, người Malaysia dùng cây húng chanh lấy lá sắc cho phụ nữ sau sinh uống hoặc giã nhỏ vắt lấy nước cho trẻ nhỏ uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà,…Cây Hương nhu tia trị đau bụng, sốt rét, nước lá tươi trị long đờm hoặc lá giã lát đắp trị bệnh ngoài da, khớp. Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu và ghi nhận nhiều cây thuốc của y học cổ truyền đã kiểm chứng thành cuốn “Medicinal plans of East and Sontheast Asia, 1985” giới thiệu cây thuốc vùng Đông Nam Á. Trong đó ghi nhận người Campuchia dùng củ khoai sáp chữa ghẻ, ngứa, người dân Lào ngâm vỏ cây Đại trộn với dầu dừa bôi ngoài da trị viêm khớp.
[25] Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây và các sản phẩm chiết từ cây cỏ chữa trị và đúc rút những cuốn sách có giá trị. Từ thời nhà Hán (168tr CN) của Trung Quốc trong cuốn “Thù hận bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa các bệnh từ các loài cây cỏ. Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trần đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục” [13]. Gần đây theo thống kê của Tổ chức Y học thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để làm thuốc.
Trong đó Ấn Độ có khoảng 6.000 loài , Trung Quốc có 5.[25] Cây thuốc là loại cây cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ sức khỏe con người. Năm 1988, Hội thảo Quốc tế về bảo tồn cây thuốc đã được tổ chức tại Chiang Mai (Thái Lan) với sự tham gia của nhiều chuyên gia đến từ 16 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới. Hội thảo đưa ra văn bản kết luận đánh giá cao tầm quan trọng của cây thuốc trong chăm sóc sức khỏe, giá trị kinh tế và tiềm năng của cây cỏ đối với việc tìm ra thuốc mới. Đông thời báo động về mất tính đa dạng sinh vật cây cỏ và các nền văn hóa trên thế giới đã ảnh hưởng đến việc tìm kiếm thuốc mới mang lại lợi ích toàn cầu.
Tuyên 9 bố Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần hợp tác ở mức độ toàn cầu để thiết lập các chương trình bảo tồn cây thuốc. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên cây thuốc đang bị đe dọa nghiêm trọng do thảm thực vật bị tàn phá, bị khai thác quá mức và bị sử dụng lãng phí. Tri thức sử dụng cây thuốc bị mai một do không được tư liệu hóa, thế hệ trẻ ở nhiều cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc của thế hệ trước. Đặc biệt, ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới là nơi có mức độ đa dạng sinh học cao của thế giới những lại bị tàn phá nhiều nhất.
Theo số liệu của tổ chức FAO của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940 – 1980), diện tích của các loại rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44% ước tính khoảng 75.000 ha rừng bị phá hủy. Ngày nay trong xu thế phát triển toàn cầu, các ngành công nghiệp được phát triển mạnh mẽ dãn tới môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Đời sống kinh tế xã hội ngày càng cao do vậy việc sử dụng cây thuốc phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe ngày một nhiều. Điều đó dẫn tới việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc không theo kịp so với nhu cầu phát triển, mà nó đã đem lại lợi nhuận cho ngành công nghiệp dược vô cùng lớn.
Tiềm năng chữa bệnh của nhiều loài thảo dược đang ngày càng được khám phá, vì thế vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn cây thuốc nói riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia nhằm phục vụ cho mục đích chăm ssoc và bảo vệ sức khỏe của con người. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng. Trong số các loài thực vật hiện có ở Việt Nam (khoảng 12.000 loài) có rất nhiều loài đã và đang có triển vọng được sử dụng làm thuốc… nếu như tính đến năm 1952 nhà thực vật Pháp công bố trên toàn Đông Dương có 1.350 loài cây thuốc thuộc 160 họ thực vật khác nhau thì năm 1996, Võ Văn Chi đã công bố hệ thực vật làm thuốc có 3. Đến năm 2005 theo số liệu của 10 Viện Dược liệu, hệ thực vật Việt Nam có 3.948 loài thuộc 307 họ của 9 ngành của nhóm thực vật bậc cao, thực vật bậc thấp và nấm và theo số liệu mới nhất năm 2012, Võ Văn Chi đã công bố trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” với gần 4.700 loài làm thuốc.
Số lượng cây thuốc mà ta biết được đã tăng rất đáng kể. Qua các thời kỳ lịch sử phát triển của đất nước đều có các Lương y nổi tiếng được lưu truyền ngàn năm. Ngay từ thời vua Hùng Vương dựng nước (2900 năm TCN) qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh nam chích quái liệt truyện, Long uy bí thư…) và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết sử dụng cây cỏ làm gia vị kích thích làm ngon miệng và thuốc chữa bệnh.[10][11][12] Theo Long úy chép lại, vào đầu thế kỷ II (TCN) có hàng trăm vị thuốc từ đất Giao chỉ như: Ý dĩ, Hoắc hương (Pogosteo cablin (Blanco) Benth…),… được người Tàu đưa về nước để giới thiệu sử dụng. Chu Tiên biên soạn cuốn sách “Bản thảo cương mục toàn y” đây là cuốn sách thuốc đầu tiên xuất bản năm 1429.
Tuệ Tĩnh biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và 3932 phương thuốc để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng. Trong cuốn “Hồng Nghĩa Giác tư Ý thư” tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cũng 13 phương gia giảm và cách trị cho 37 chứng sốt. Trong “Nam được thần hiệu” có ghi: Tô mộc (Caesalpinia sappan) vị mặn, tính bình không độc, trừ huyết xấu, trị đau bụng, thương phong, sưng lở; Thanh hao (Artemisia apiacea) chữa chứng sốt 11 lị. [25] Sử quân tử (Quisqualis indica) có vị ngọt, tính ôn không độc và hai kinh tỷ vả vị, chữa 5 chứng cảm trẻ em, tiểu tiện, sát khuẩn, chữa tả lị, còn làm thuốc mạnh tì vị, chữa hết thảy các chủng lở ngứa của trẻ em.
Sầu đâu rừng (Brucea javanica) vị đắng , tính hàn, có độc, sát trùng, trị đau ruột non, nhiệt trong bàng quang, điên cuồng ghẻ lở. Cây lá móng (Lawsonia inermis) chữa hắc lào, lở loét ngoài da, tê mỏi, viêm đường hô hấp, gan… Bạc hà (Mentha arvelisis) chữa sốt nhức đầu… [27] Tuệ Tĩnh được coi là danh y kỷ tài trong lịch sử y học nước ta, là “Vị thánh thuốc nam”. Ông chủ trương lấy “Nam dược trị nam nhân”. Trong bộ sách quý của ông về sau bị quân minh thu hết chỉ còn lại: “Nam được thần hiệu”, “Tuệ Tĩnh y thư”, “Thập tam phương gia giảm”, “Thương hàn tam thập thất trùng phát”.
[27][13] Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, đến năm 1969 tải bản thành hai tập, giới thiệu trên 500 vị thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc , động vật và khoáng vật. Ông tiếp tục nghiên cứu và bổ sung về cây thuốc liên tục trong các lần tái bản về sau. Lần tái bản lần thứ 11 (2003) ông mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học 792 loài cây thuốc, chia tất cả các cây thuốc theo nhóm bệnh khác nhau.[20] Đây là bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn. Thực hiện chủ trương phát triển của y học dân tộc nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu và ra đời nhiều tài liệu quý như “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” (1980) của Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây thuốc trong đó có 150 loài mới phát hiện.
[2] Cũng trong thời gian này Viện Dược liệu xuất bản cuốn “Dược điển Việt Nam” (2 tập), các nhà khoa học đã tổng hợp các công trình trong những năm vừa qua.