ĐẶT VẤN ĐỀ Điều dƣỡng (ĐD) là một trong các loại hình nhân lực y tế chủ chốt trong hệ thống y tế tham gia bảo vệ, nâng cao sức khỏe cho các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khẳng định dịch vụ ĐD là một trong những trụ cột của hệ thống chăm sóc y tế, có mặt ở mọi tuyến của hệ thống y tế và có vai trò quan trọng trong thực hiện các mục tiêu của hệ thống y tế nhƣ tăng cƣờng sự tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản, bảo đảm tính phổ cập, công bằng, hiệu quả trong các dịch vụ chăm sóc sức khỏe [39]. Ở Việt Nam trƣớc đây, điều dƣỡng chỉ đƣợc coi là ngƣời thực hiện các y lệnh của bác sĩ. Nhƣng ngày nay, điều dƣỡng đã đƣợc coi là một nghề độc lập, là một thành viên trong nhóm chăm sóc y tế bao gồm bác sĩ, dƣợc sĩ và các nhân viên y tế khác cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
Theo Niên giám thống kê y tế năm 2012 cả nƣớc có 86.426 Điều dƣỡng, chiếm khoảng 21,2% nhân lực của ngành y tế. Trong đó, trình độ đại học 7,1%, trình độ cao đẳng và trung cấp chiếm 92,9%. Do số lƣợng có hạn, cử nhân điều dƣỡng đại học chủ yếu công tác ở các bệnh viện tuyến trung ƣơng và tuyến tỉnh. Nhiều ngƣời trong số họ đƣợc giao nhiệm vụ Điều dƣỡng trƣởng của các khoa, phòng và của bệnh viện [10].
Từ năm 1994, Việt Nam bắt đầu đào tạo ĐD chính quy ở trình độ đại học. Đến nay, trên toàn quốc đã có 24 cơ sở đào tạo ĐD trình độ đại học và sau đại học, 51 trƣờng cao đẳng và hệ thống trƣờng trung cấp chuyên nghiệp gồm 94 trƣờng khắp các tỉnh thành trong cả nƣớc tham gia đào tạo điều dƣỡng [19]. Hiện đang có 5 loại chƣơng trình đào tạo ĐD: y tá thôn bản (1 năm), ĐD trung học (2 năm), ĐD cao đẳng (3 năm), cử nhân ĐD (4 năm) và thạc sĩ ĐD (2 năm). Tuy nhiên, theo kết quả kiểm tra bệnh viện năm 2010 của Cục Quản lý khám, chữa bệnh, 85% lực lƣợng ĐD, hộ sinh còn ở trình độ trung cấp, nhƣ vậy chỉ có 15% ĐD viên, hộ sinh viên có trình độ cao đẳng, đại học tƣơng đƣơng với chuẩn đào tạo mà chính phủ các nƣớc ASEAN đã ký kết trong Thỏa thuận công nhận lẫn nhau về dịch vụ ĐD và theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới [13].
2 Với sự thay đổi mô hình bệnh cũng nhƣ yêu cầu ngày càng cao của ngƣời dân đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trọng tâm của các trƣờng y dƣợc nói chung và ĐD nói riêng trong thời gian tới là tập trung vào nâng cao chất lƣợng giáo dục, trong đó chất lƣợng giáo dục đại học là một trong những nền tảng quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực y tế. Chƣơng trình hành động quốc gia về tăng cƣờng công tác ĐD, hộ sinh giai đoạn từ nay đến năm 2020 đã đề ra mục tiêu: “Tăng cường nguồn nhân lực ĐD, hộ sinh cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu trình độ phù hợp, ưu tiên nhân lực cho khu vực khó khăn (miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và khu vục nông thôn) bảo đảm cân đối giữa đào tạo và sử dụng nhân lực y tế, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, yêu cầu thực hiện thỏa thuận công nhận lẫn nhau trong khu vực ASEAN, các chuẩn mực của Hội đồng ĐD quốc tế và Liên đoàn Hộ sinh quốc tế”. Trong đó đã đề ra chỉ tiêu đến năm 2015, 70% sinh viên ĐD tốt nghiệp và đến năm 2020, 100% sinh viên ĐD tốt nghiệp đạt chuẩn năng lực cơ bản của ĐD đã phê duyệt [13]. Trƣớc thực tế đó thì nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo ĐD để nâng cao chất lƣợng đào tạo, gắn đào tạo với thực hành tay nghề trong suốt quá trình đào tạo sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành y tế nƣớc nhà.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 tại Hội nghị Trung ƣơng lần thứ 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn”. Với đặc thù đào tạo nhân lực y tế nói chung và đào tạo ĐD nói riêng luôn gắn liền với thực hành, bao gồm thực hành tiền lâm sàng tại trƣờng và thực hành lâm sàng tại bệnh viện các cơ sở y tế ở nhiều tuyến khác nhau thì đào tạo thực hành đóng một vai trò quyết định đến năng lực thực hành nghề nghiệp của ngƣời ĐD. Tuy nhiên, hiện nay chất lƣợng đào tạo cử nhân ĐD chƣa đáp ứng đƣợc các chuẩn năng lực nghề nghiệp đặc biệt là năng lực thực hành, kỹ năng giao tiếp với ngƣời bệnh, ngƣời nhà ngƣời bệnh và cộng đồng.
3 Nhằm cung cấp các bằng chứng cho việc cải thiện chất lƣợng đào tạo thực hành cử nhân điều dƣỡng đại học, góp phần đổi mới và nâng cao chất lƣợng đào tạo nhân lực ĐD Việt Nam, thì việc rà soát, đánh giá thực trạng đào tạo thực hành ĐD tại các cơ sở đào tạo đang đặt ra cấp thiết. Hiện nay, cả nƣớc có 24 trƣờng đại học đào tạo cử nhân điều dƣỡng. Các trƣờng không phân bố đều theo các vùng kinh tế xã hội. Vì vậy, tiêu chí chọn trƣờng theo vùng bắc, trung, nam và bao gồm các trƣờng đã có quá trình đào tạo điều dƣỡng lâu dài cũng nhƣ trƣờng mới đào tạo sau này.
Với các tiêu chí này, chúng tôi thực hiện rà soát thực trạng đào tạo thực hành cử nhân điều dƣỡng tại 5 trƣờng công lập. Trong đó có 03 trƣờng đại học đa ngành tại Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh là Trƣờng Đại học Y Hà Nội, Trƣờng Đại học Y Dƣợc Huế, Đại học Y Dƣợc thành phố Hồ Chí Minh, 01 trƣờng đại học đại diện cho khu vực miền núi là Trƣờng Đại học Y Dƣợc Thái Nguyên và 01 trƣờng đại học đào tạo điều dƣỡng chuyên ngành là Trƣờng Đại học Điều dƣỡng Nam Định. Chính vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng đào tạo thực hành cử nhân Điều dưỡng đại học tại 5 cơ sở đào tạo năm 2014” 4 MỤC TIÊU 1. Mô tả mức độ thực hành kỹ năng điều dƣỡng của sinh viên điều dƣỡng đại học tại 5 cơ sở đào tạo năm 2014.
Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hƣởng đến đào tạo thực hành tiền lâm sàng và lâm sàng cho cử nhân điều dƣỡng đại học. 5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Một số khái niệm Điều dưỡng Năm 1973, Hội đồng ĐD quốc tế đã chấp nhận định nghĩa của Virginia Handerson: Chức năng duy nhất của ngƣời ĐD là hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc phục hồi sức khỏe ngƣời bệnh hoặc ngƣời khỏe, hoặc cho cái chết đƣợc thanh thản mà mỗi cá thể có thể tự thực hiện nếu họ có sức khỏe, ý chí và kiến thức. Giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt đƣợc sự độc lập càng sớm càng tốt [8]. Chức năng Điều dưỡng Ngƣời ĐD có một số chức năng nhƣ sau: Chức năng phụ thuộc: là các hoạt động thực hiện theo y lệnh của bác sĩ.
Chức năng phối hợp: là phối hợp với các thành viên trong nhóm chăm sóc, nhân viên chuyên nghành khác, phối hợp với ngƣời bệnh để hoàn thành kế hoạch chăm sóc ngƣời bệnh đạt hiệu quả cao. Chức năng độc lập: là các hoạt động trong phạm vi thực hành, chẩn đoán ĐD và xử trí đƣợc ĐD chủ động thực hiện, không cần bác sỹ ra y lệnh [2][31]. Vai trò của Điều dưỡng Điều dƣỡng có vai trò thực hành trong thực hiện chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Ngƣời ĐD phải cả quyết, tự tin, rút kinh nghiệm và đƣa ra những thay đổi tốt trong chăm sóc.
Vai trò nghiên cứu của ĐD để cải tiến các kỹ thuật thích hợp và cải tiến cách chăm sóc ngƣời bệnh đạt hiệu quả cao [2]. Nhiệm vụ Ngày 26/01/2011 Thông tƣ 07/2011/TT- BYT có quy định 12 nhiệm vụ của ĐD trong công tác chăm sóc ngƣời bệnh tại bệnh viện: Tƣ vấn, hƣớng dẫn giáo dục sức khỏe cho ngƣời bệnh; Chăm sóc về tinh thần; Chăm sóc vệ sinh cá nhân; Chăm sóc về dinh dƣỡng; Chăm sóc vệ sinh cá nhân; Chăm sóc ngƣời bệnh có chỉ định phẫu thuật thủ thuật; Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho ngƣời bệnh; Chăm sóc ngƣời bệnh hấp hối và tử vong; Thực hiện các kỹ thuật ĐD; Theo dõi và đánh giá 6 ngƣời bệnh; Bảo đảm an toàn phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc ngƣời bệnh; Ghi chép hồ sơ bệnh án [15]. Cơ sở đào tạo Cơ sở đào tạo là các đại học, trƣờng đại học, học viện, trƣờng cao đẳng, trƣờng trung cấp, đƣợc cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ y tế trình độ sau đại học, đại học, cao đẳng và trung cấp [16]. Cơ sở thực hành Cơ sở thực hành là bệnh viện, viện nghiên cứu, các cơ sở khám chữa bệnh khác đƣợc cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ khám, chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh và tham gia đào tạo bồi dƣỡng cán bộ y tế [16].
Cử nhân điều dưỡng Cử nhân điều dƣỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật ĐD cơ bản và kỹ thuật ĐD chuyên khoa tại các cơ sở y tế [5]. Năng lực điều dưỡng Bản mô tả các kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi yêu cầu cho hành nghề điều dƣỡng Thi lâm sàng theo cấu trúc khách quan (OSCE) Là một phƣơng pháp đánh giá kỹ năng lâm sàng trong đào tạo chăm sóc sức khỏe, theo đó tất cả các thí sinh đều tham dự cùng những công việc lâm sàng giống nhau, cùng hoàn thành vào một khoảng thời gian và đƣợc đánh giá với cùng hệ thống cho điểm có cấu trúc [32] 1.Lịch sử ngành Điều dƣỡng 1. Lịch sử phát triển của ngành điều dƣỡng ở Việt Nam Sự ra đời của công tác y tá/điều dƣỡng của nƣớc ta xuất hiện khi nền y học phƣơng Tây bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam.