Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, các vấn đề về sức khỏe tâm thần đang ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng 25% dân số và 20% lực lượng lao động trên toàn cầu. Trong lĩnh vực y tế, nhân viên y tế khối lâm sàng là đối tượng đặc thù thường xuyên đối mặt với áp lực chuyên môn cao, nguy cơ phơi nhiễm bệnh tật và tình trạng căng thẳng tâm lý kéo dài. Bệnh viện Đa khoa Phương Đông là bệnh viện tư nhân hạng 3 tại Hà Nội, chính thức hoạt động từ tháng 10 năm 2018 với quy mô 106 giường bệnh và gần 250 nhân sự. Trung bình mỗi ngày, bệnh viện tiếp nhận trên 700 lượt khám chữa bệnh, dẫn đến tình trạng quá tải cục bộ tại các khoa lâm sàng. Thống kê nội bộ cho thấy tỷ lệ xin nghỉ việc ở khối lâm sàng cao gấp 2,5 lần so với khối hành chính điều hành, dù lực lượng này chiếm tới 67% tổng nhân sự toàn viện.

Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng biểu hiện căng thẳng tâm lý và xác định các yếu tố liên quan ở 203 nhân viên y tế khối lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 12 năm 2021. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu khoa học đáng tin cậy, giúp các nhà quản lý y tế tư nhân đánh giá toàn diện gánh nặng tâm lý nghề nghiệp. Đây là cơ sở thực chứng quan trọng để ban lãnh đạo bệnh viện xây dựng chính sách đãi ngộ phù hợp, cải thiện điều kiện lao động và triển khai các giải pháp can thiệp kịp thời nhằm bảo vệ sức khỏe tinh thần cho đội ngũ y bác sĩ tuyến đầu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết căng thẳng sinh học của Hans Selye, nhìn nhận căng thẳng tâm lý là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước các kích thích môi trường. Đồng thời, tác giả kết hợp mô hình đáp ứng căng thẳng của G. Butler và định nghĩa của Viện Quốc gia về An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp Hoa Kỳ (NIOSH), nhấn mạnh sự mất cân bằng giữa đòi hỏi công việc và năng lực của người lao động.

Các khái niệm trọng tâm bao gồm: sức khỏe tâm thần theo Tổ chức Y tế Thế giới; nhân viên y tế khối lâm sàng theo Thông tư số 28/2014/TT-BYT; và biểu hiện căng thẳng tâm lý trên các khía cạnh cảm xúc, nhận thức, hành vi và sinh lý. Khung mô hình nghiên cứu bao gồm 3 nhóm yếu tố độc lập tác động đến căng thẳng: nhóm yếu tố cá nhân (tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, vị trí chuyên môn, thâm niên công tác, hoạt động thể lực); nhóm yếu tố gia đình (nhà ở, thu nhập bình quân, mối quan hệ gia đình); và nhóm yếu tố công việc (thời gian làm thêm giờ, mức độ ổn định, môi trường làm việc, thái độ của người bệnh và chế độ khuyến khích).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích, tiến hành thu thập dữ liệu định lượng từ ngày 15 tháng 3 năm 2021 đến ngày 30 tháng 3 năm 2021. Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95%, sai số tuyệt đối mong muốn 6% và tỷ lệ dự đoán 20%, xác định cỡ mẫu tối thiểu là 170 đối tượng cộng thêm 10% dự phòng là 187 đối tượng. Nghiên cứu đã chọn mẫu toàn bộ 203 nhân viên y tế khối lâm sàng đang làm việc tại 5 khoa: Nội, Ngoại, Sản, Nhi và Chuyên khoa lẻ nhằm đảm bảo tính đại diện cao.

Công cụ thu thập dữ liệu là bộ câu hỏi phát vấn tự điền gồm 6 phần và 36 câu hỏi. Tình trạng căng thẳng tâm lý được sàng lọc qua 7 tiểu mục thuộc cấu phần Stress của thang đo DASS-21 đã được chuẩn hóa tại Việt Nam (thang điểm Likert từ 0 đến 3, nhân đôi tổng điểm; điểm cắt lớn hơn 14 xác định có biểu hiện căng thẳng với các mức: nhẹ từ 15 đến 18 điểm, vừa từ 19 đến 25 điểm, nặng từ 26 đến 33 điểm và rất nặng từ 34 điểm trở lên). Phiếu khảo sát được thử nghiệm trước trên 10 nhân viên y tế tại cơ sở y tế tương đương. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm EpiData 3.1 và SPSS 20.0, áp dụng kiểm định Khi bình phương và kiểm định chính xác Fisher để xác định tỷ suất chênh (OR), khoảng tin cậy 95% (CI 95%) ở mức ý nghĩa p nhỏ hơn 0,05. Đề tài được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng theo Quyết định số 96/2021/YTCC-HD3.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ biểu hiện căng thẳng tâm lý ở nhân viên y tế khối lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông là 77,4% (157 trên tổng số 203 người), với điểm trung bình đạt 16,9 ± 5,8 điểm. Trong đó, mức độ nhẹ chiếm 42,3%, mức độ vừa chiếm 28,9%, mức độ nặng chiếm 6,2% và không có trường hợp rất nặng.

Về vị trí công việc, tỷ lệ căng thẳng cao nhất ở kỹ thuật viên (94,1%), tiếp theo là điều dưỡng (88,9%), nữ hộ sinh (80,0%), bác sĩ (52,2%) và dược sĩ (50,0%). Nhóm kỹ thuật viên, điều dưỡng và hộ sinh có nguy cơ căng thẳng cao gấp 7,0 lần nhóm bác sĩ và dược sĩ (OR = 7,0; CI 95%: 2,5 - 19,7; p < 0,001). Về khoa phòng, tỷ lệ căng thẳng dẫn đầu tại khoa Ngoại (84,6%), khoa Nhi (82,4%), khoa Nội (81,2%), Chuyên khoa lẻ (80,8%) và thấp nhất tại khoa Sản (64,0%).

Phân tích đơn biến xác định các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) gồm: thường xuyên đối mặt với thái độ không tốt của bệnh nhân hoặc người nhà làm tăng nguy cơ căng thẳng gấp 16,6 lần (OR = 16,6; CI 95%: 4,0 - 69,7); không hài lòng với hình thức động viên khen thưởng làm tăng nguy cơ gấp 20,9 lần (OR = 20,9; CI 95%: 4,0 - 108,8); tuổi từ 35 trở xuống có nguy cơ gấp 13,6 lần (OR = 13,6; CI 95%: 4,3 - 42,8); thâm niên dưới 10 năm có nguy cơ gấp 11,3 lần (OR = 11,3); chưa có nhà riêng có nguy cơ gấp 10,2 lần (OR = 10,2); thu nhập gia đình dưới 10 triệu đồng/tháng có nguy cơ gấp 11,3 lần (OR = 11,3); làm thêm giờ có nguy cơ gấp 9,6 lần (OR = 9,6); và không tham gia thể lực có nguy cơ gấp 11,9 lần (OR = 11,9).

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ căng thẳng 77,4% tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông cao hơn đáng kể so với mức 36,9% tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2011 và 24,5% tại Bệnh viện Đa khoa 115 Nghệ An năm 2013. Sự khác biệt này xuất phát từ đặc thù môi trường bệnh viện tư nhân chất lượng cao, nơi người bệnh chi trả viện phí lớn và đòi hỏi sự chăm sóc khắt khe. Bên cạnh đó, có tới 83,5% nhân viên phải làm thêm giờ từ 1 đến 2 ngày mỗi tuần trong bối cảnh kiểm soát dịch bệnh phức tạp năm 2021.

Dữ liệu phản ánh áp lực lớn từ sự mất cân đối giữa công sức và thu nhập khi có 52,6% nhân viên nhận định thu nhập chưa phù hợp và 89,7% chưa hài lòng với các hình thức động viên. Đáng lưu ý, nhóm nhân viên nhận thấy có cơ hội học tập nâng cao chuyên môn lại có tỷ lệ căng thẳng cao gấp 27,8 lần (OR = 27,8; CI 95%: 3,1 - 246,7), phản ánh gánh nặng tâm lý khi vừa phải hoàn thành chỉ tiêu chuyên môn vừa phải nỗ lực đào tạo liên tục. Các kết quả này có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột phân bố tỷ lệ căng thẳng theo chuyên môn và bảng tổng hợp các tỷ suất chênh OR để làm rõ thứ tự ưu tiên can thiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên bằng chứng thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 giải pháp can thiệp trọng tâm:

  1. Cải tiến chính sách tiền lương và đãi ngộ: Ban Giám đốc cùng Phòng Tài chính - Kế toán cần rà soát lại thang bảng lương, xây dựng quy chế khen thưởng minh bạch và công bằng vào các dịp lễ, Tết. Mục tiêu hướng tới là giảm tỷ lệ nhân viên đánh giá thu nhập không phù hợp từ mức 52,6% hiện tại xuống dưới 20% trong quý 3 năm 2021.
  2. Tối ưu hóa phân ca và kiểm soát thời gian làm thêm: Phòng Tổ chức Cán bộ phối hợp với Trưởng các khoa lâm sàng sắp xếp lịch trực hợp lý, hạn chế tối đa việc làm thêm giờ quá 2 ngày mỗi tuần (hiện chiếm 9,3%). Cần tuyển dụng bổ sung từ 15% đến 20% nhân lực điều dưỡng và kỹ thuật viên trước quý 4 năm 2021 để giảm tải công việc.
  3. Đào tạo kỹ năng giao tiếp và hỗ trợ tâm lý: Phòng Kế hoạch Tổng hợp kết hợp với Công đoàn bệnh viện tổ chức các khóa tập huấn ứng xử, xử lý xung đột với người bệnh (nguồn cơn làm tăng nguy cơ stress gấp 16,6 lần). Đồng thời, thiết lập kênh tư vấn tâm lý nội bộ từ tháng 6 năm 2021 để hỗ trợ kịp thời cho 77,4% nhân viên có biểu hiện căng thẳng.
  4. Phát động phong trào rèn luyện thể chất: Ban Chấp hành Công đoàn và Đoàn Thanh niên đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao nội viện, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nhân viên tập luyện thường xuyên từ mức 4,1% lên trên 35% trong 6 tháng, tận dụng lợi ích giảm thiểu 11,9 lần nguy cơ căng thẳng tâm lý.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Ban lãnh đạo và nhà quản trị bệnh viện tư nhân: Nắm bắt toàn diện sức khỏe tinh thần của nhân sự khối lâm sàng, từ đó tối ưu hóa chính sách đãi ngộ, cải thiện môi trường làm việc và giảm thiểu tỷ lệ xin nghỉ việc (vốn đang cao gấp 2,5 lần ở khối lâm sàng).
  2. Học viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Y tế công cộng, Quản lý y tế: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về thiết kế nghiên cứu cắt ngang, quy trình ứng dụng thang đo DASS-21 và phân tích hồi quy các yếu tố nguy cơ trong môi trường y tế tư nhân.
  3. Trưởng khoa lâm sàng và điều dưỡng trưởng: Nhận diện sớm các yếu tố gây quá tải ở nhân viên cấp dưới để phân bổ ca trực khoa học, xây dựng môi trường làm việc gắn kết và nâng cao hiệu suất chăm sóc người bệnh.
  4. Tổ chức Công đoàn ngành y tế và cơ quan quản lý: Có thêm căn cứ thực tiễn để tham mưu ban hành các quy định về an toàn lao động, định mức giờ làm và chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần định kỳ cho nhân viên y tế ngoài công lập.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thang đo DASS-21 đánh giá biểu hiện căng thẳng tâm lý ở nhân viên y tế như thế nào? Thang đo sử dụng 7 câu hỏi chuyên biệt để đo lường mức độ khó thư giãn, dễ bị kích động và căng thẳng thần kinh trong tuần qua theo thang điểm từ 0 đến 3. Tổng điểm được nhân đôi, với ngưỡng cắt lớn hơn 14 điểm xác định có căng thẳng (gồm mức nhẹ 15-18 điểm, vừa 19-25 điểm, nặng 26-33 điểm). Điểm trung bình ghi nhận trong nghiên cứu là 16,9 điểm.

  2. Tại sao kỹ thuật viên và điều dưỡng lại có tỷ lệ căng thẳng cao hơn bác sĩ? Kỹ thuật viên ghi nhận tỷ lệ căng thẳng 94,1% và điều dưỡng là 88,9%, cao hơn nhiều so với bác sĩ (52,2%). Nguyên nhân do nhóm này trực tiếp thực hiện các thao tác chăm sóc liên tục, thời gian tiếp xúc bệnh nhân kéo dài, thường xuyên chịu áp lực từ thái độ của người nhà và có mức thu nhập bình quân thấp hơn.

  3. Yếu tố công việc nào làm tăng nguy cơ căng thẳng tâm lý cao nhất trong nghiên cứu? Áp lực từ cơ hội học tập nâng cao trình độ chuyên môn làm tăng nguy cơ căng thẳng cao nhất (OR = 27,8), tiếp theo là sự không hài lòng với hình thức động viên khen thưởng của bệnh viện (OR = 20,9) và việc thường xuyên đối mặt với thái độ không tốt của bệnh nhân hoặc người nhà (OR = 16,6).

  4. Tình trạng làm thêm giờ tác động ra sao đến sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế? Khảo sát cho thấy 74,2% nhân viên phải làm thêm 1-2 ngày/tuần và 9,3% làm thêm từ 3 ngày/tuần trở lên. Những người phải làm thêm giờ có nguy cơ xuất hiện biểu hiện căng thẳng tâm lý cao gấp 9,6 lần so với nhóm không làm thêm giờ (OR = 9,6; p < 0,001) do thiếu hụt thời gian tái tạo sức lao động.

  5. Biện pháp cá nhân nào giúp nhân viên y tế phòng ngừa căng thẳng hiệu quả nhất? Duy trì tập luyện thể lực đều đặn giúp giảm nguy cơ căng thẳng tới 11,9 lần so với người không tập luyện. Ngoài ra, nhân viên y tế cần chủ động trau dồi kỹ năng giao tiếp ứng xử, sắp xếp thời gian làm việc khoa học và duy trì mối quan hệ hòa thuận trong gia đình để tăng khả năng chống chịu stress.

Kết luận

  • Tỷ lệ hiện mắc biểu hiện căng thẳng tâm lý ở nhân viên y tế khối lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông năm 2021 là 77,4%, trong đó mức độ nhẹ chiếm 42,3%, vừa chiếm 28,9% và nặng chiếm 6,2%.
  • Vị trí kỹ thuật viên (94,1%) và điều dưỡng (88,9%) chịu áp lực lớn nhất; khoa Ngoại (84,6%) và khoa Nhi (82,4%) là các đơn vị có tỷ lệ căng thẳng cao nhất toàn viện.
  • Các yếu tố công việc then chốt làm gia tăng căng thẳng gồm làm thêm giờ (OR = 9,6), thái độ tiêu cực từ người bệnh (OR = 16,6) và chưa hài lòng về chế độ đãi ngộ (OR = 20,9).
  • Yếu tố cá nhân và gia đình như tuổi từ 35 trở xuống (OR = 13,6), chưa có nhà riêng (OR = 10,2) và không rèn luyện thể lực (OR = 11,9) làm tăng rõ rệt nguy cơ căng thẳng.
  • Luận văn đóng góp hệ thống dữ liệu thực nghiệm giá trị về sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế trong khối bệnh viện tư nhân tại Việt Nam.

Kế hoạch can thiệp trong giai đoạn 2021-2022 đòi hỏi ban lãnh đạo bệnh viện khẩn trương thực thi các giải pháp tái cơ cấu thu nhập, điều tiết giờ làm và tổ chức các chương trình hỗ trợ tâm lý chuyên sâu. Hãy bắt đầu cải thiện môi trường làm việc y tế ngay hôm nay bằng cách xây dựng chính sách chăm sóc sức khỏe tinh thần bền vững cho đội ngũ thầy thuốc.