Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu của răng, lợi 1. Đặc điểm giải phẫu của răng [3], [9], [29] Răng gồm có thân răng, chân răng, cổ răng. Thân răng gồm có men răng và ngà răng.
Chân răng gồm có xương răng, ngà răng và tủy răng, cổ răng là ranh giới giữa thân và chân răng. Câu tạo của răng 1. Men răng Men răng là mô cứng nhất trong cơ thể, có nguồn gốc từ ngoại bì, có tỷ lệ chất vô cơ cao nhất (khoảng 96%). Men răng phủ toàn bộ thân răng, dày hay mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng.
Men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi, nhưng có sự trao đổi về vật lý và hóa học với môi trường trong miệng. về mặt hóa học, chất vô cơ chiếm 96% chủ yếu là 3[Ca 3(PO4)2].2H2O còn lại là các muối Cacbonat của Magiê, Clorua, Fluorua và muối Sunfat của Natri và Kali. Thành phần hữu cơ chiếm khoảng 1% trong đó chủ yếu là Protit. về mặt lý học, men răng cứng, giòn, trong và cản tia X với tỷ trọng từ 2,3-3 so với ngà răng.
6 Cấu trúc học của men răng (quan sát qua kính hiển vi) có hai loại đường vân: - Đường retzius: Trên tiêu bản cắt ngang là các đường chạy song song nhau và song song với đường viền ngoài của lớp men cũng như với đường ranh giới men ngà ở phía trong. Trên tiêu bản cắt dọc thân răng, đường retzius họp với đường ranh giới men ngà cũng như với mặt ngoài của men thành một góc nhọn. - Đường trụ men: Chạy suốt chiều dày men răng và hướng thẳng góc với đường ngoài trong của men răng, đôi khi có sự gấp khúc và thay đổi hướng đi của trụ men. Trụ men có đường kính từ 3-6pm, khi cắt ngang qua trụ men ta thấy tiết diện có các loại hình thể: vẩy cá 57%, lăng trụ 30%, không rõ ràng 10%, hướng đi của trụ men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ chính là dải Hunter-schrenge.
Ngà răng Ngà răng là một tổ chức chiếm khối lượng chủ yếu ở phần thân răng, trong điều kiện bình thường ngà răng không lộ ra ngoài và được bao phủ hoàn toàn bởi men răng và xương răng. Ngà răng bao bọc và bảo vệ cho tủy răng. Ngà răng là tổ chức ít rắn hơn và chun giãn hơn men răng, không giòn và dễ vỡ như men răng. Tính chất hóa học: Thành phần vô cơ chiếm 70%, chủ yếu là photphat 3 canxi apatit 3[Ca3(PO4)2]2H2O, ngoài ra còn có Cacbonat Canxi, Magiê và Flour.
Thành phần hữu cơ và nước chiếm 30%, chủ yếu là chất keo collagen. Cấu trúc tổ chức học: - Ngà tiên phát được tạo nên trong quá trình hình thành răng, chiếm khối lượng chủ yếu của răng, bao gồm ống ngà, chất giữa ống ngà và dây Tomes, ống ngà xuất phát từ bề mặt tủy rồi chạy suốt chiều dài của ngà, số lượng từ 15. Chất giữa ống ngà được hình thành bởi sự ngấm vôi những thành phần hữu cơ có cấu trúc sợi, trong đó chủ yếu là những sợi keo. Dây Tomes ở trong ống ngà là đuôi nguyên sinh chất keo dài của tạo ngà bào, nó đảm bảo sự trao đổi chuyển hóa và có khả năng tạo ngà, chiều dài từ 2-5mm.
- Ngà thứ phát được hình thành ở giai đoạn răng đã hoàn chỉnh, bao gồm ngà thứ phát sinh lý được hình thành liên tục trong suốt thời gian tồn tại của răng với nhịp độ rất chậm và ngà thứ phát bệnh lý được hình thành bởi quá trình bệnh lý của răng (lóp ngà phản ứng) do sâu răng, do sang chấn. Tủy răng Tủy răng là một khối tổ chức liên kết mạch máu nằm trong một cái hốc ở giữa răng gọi là hốc tủy răng. Tủy răng được hình thành từ hành răng (gai liên kết) của mầm răng trong quá trình tạo ngà, có nguồn gốc ngoại trung mô. Hình thế tủy răng tương tự hình thể ngoài của răng, gồm tủy buồng và tủy chân.
Tổ chức học tủy răng bao gồm: Các tế bào của tủy thuộc về các nhóm khác nhau và có các chức năng khác nhau, thành phần sợi và chất căn bản, mạch máu và thần kinh. Tủy răng có vai trò tạo ngà, đảm bảo sự trao đổi chuyển hóa trong các tổ chức răng, nhờ lưới mạch máu rất giàu trong tủy và nhờ vai trò dinh dưỡng của tế bào tạo ngà và nhờ dây Tomes, đảm bảo phần lớn cảm giác của răng. Xương răng Là tổ chức canxi hoá bao phủ vùng ngà chân răng bắt đầu từ cổ răng, cấu trúc xương răng được chia làm hai loại. - Xương răng tiên phát: ở lớp ngà vùng cổ răng và là loại xương răng không có tế bào.
- Xương răng thứ phát: Có tế bào tạo xương răng bao phủ vùng ngà 2/3 dưới chân răng và cuống răng. Độ dày của xương thay đổi theo vị trí và tuổi, mỏng ở vùng cổ răng và dày hơn ở vùng cuống răng. Đặc điểm giải phẫu của lợi [9], [27] Lợi gồm 3 phần là nhú lợi, viền lợi thuộc lợi tự do và lợi bám dính. Giữa lợi tự do và răng là một rãnh nông, đáy của nó tạo bởi biểu mô bám dính là nơi lợi bám vào răng, bình thường rãnh này sâu khoảng 0.5-2mm gọi là rãnh lợi sinh lý.
Có tác giả mô tả lợi tự do gồm 2 phần khác nhau về mặt bệnh lý: nhú lợi và đường viền lợi. Nhú lợi giữa các răng là phần che kín các kẽ răng, có một nhú phía ngoài và một nhú phía trong, giữa 2 nhú là một vùng lõm. Theo hình dạng kích thước của nó, nhú được tạo bởi hoặc chỉ có một phần lợi tự do hoặc lẫn cả lợi dính. Đường viền lợi không dính vào răng mà ôm sát vào cổ răng, chiều cao khoảng 0.
Mặt trong đường viền lợi là thành ngoài rãnh lợi có phủ một lóp biểu mô mỏng. Mặt ngoài của lợi dính cũng như lợi tự do được phủ bằng một lóp 8 biểu mô sừng hóa. Mặt trong có 2 phần: phần bám vào chân răng khoảng 1.5mm gọi là vùng bám dính và phần bám dính vào mặt ngoài xương 0 răng. Lợi dính có màu nhạt hơn lợi tự do.
Màu của nó phụ thuộc vào độ dày của lớp biểu mô sừng hóa, mật độ mao mạch dưới biểu mô và số lượng tế bào sắc tố. Sức đề kháng lẫn chức năng của lợi phụ thuộc vào chiều rộng của nó, độ dày của lóp biểu mô phủ và chất lượng của lớp sợi liên kết bám chắc vào nền xương. về mặt vi thể, người ta đã xác định niêm mạc lợi có cấu trúc gồm 2 thành phần: biểu mô và tổ chức liên kết đệm. Biểu bì phủ bề mặt lợi dính và mặt ngoài viền lợi là lóp biểu bì sừng hóa, từ sâu ra nông gồm 4 lớp tế bào: Lớp tế bào đáy, lóp tế bào gai, lóp tế bào hạt và lóp tế bào sừng hóa.
Biểu bì phủ mặt trong rãnh lợi là biểu mô không sừng hóa, nó liên tiếp với phía trên bởi biểu mô sừng hóa của lợi tự do và dưới biểu mô bám dính. Biểu mô bám dính là biểu mô ở đáy rãnh lợi bám dính vào răng, lóp này khác với biểu mô ở những nơi khác của lợi. Tổ chức đệm của lợi lả một tổ chức liên kết có nhiều sợi keo và rất ít sợi chun. Những sợi keo sắp xếp thành những bó sợi lớn hình thành một hệ thống sợi của lợi.
Thêm vào đó để duy trì sự bám chắc của lợi vào răng là nhóm sợi bao quanh răng có tác dụng giữ lợi luôn kề với răng, không bong ra. Nhóm sợi ngang liên vách giữa 2 răng kề nhau và là một vách ngăn không cho biểu mô rãnh lợi di chuyển xuống phía cuống, ngoài ra còn một nhóm nữa cũng thấy rõ là từ chỗ khởi đầu trong mào xương 0 răng và đi qua thân răng trong lá riêng. Chức năng của răng, lợi 2. Chức năng của răng [10], [28] Chức năng chính của răng là ăn nhai.
Quá trình nhai là một quá trình phức tạp, trong quá trình đó, các răng khác nhau có tác dụng khác nhau. Răng cửa dùng để cắt thức ăn, răng nanh chủ yếu là xé thức ăn, răng hàm nghiền nát thức ăn. Chức năng phát âm: Răng có liên quan mật thiết đến ngôn ngữ và phát âm. Các răng phía trước có ảnh hưởng rất lớn đối với ngôn ngữ và phát âm, khi bị mất răng cửa do không thể khống chế tốt các luồng hơi phát ra, khi nói sẽ thoát hơi, nếu hoạt động của lưỡi mất đi sự hạn chế của răng trước cũng ảnh hưởng đến độ chính xác của việc phát âm.
9 Hơn nữa, răng còn có ảnh huờng quan trọng đến thẩm mỹ của con người. Chức năng của lợi [10], [28] Răng được giữ chắc và thực hiện được các chức năng kể tiên là nhờ có các mô quanh răng gồm lợi, dây chằng quanh răng, xương răng và xương ổ răng, chúng giữ răng Ương khe quanh răng cân bằng và thực hiện chức năng của nó. Neu lợi không lành mạnh, răng sẽ bị lung lay và không thực hiện tốt các chức năng ăn nhai, phát àm, thẩm mỹ. Căn nguyên bệnh sâu răng, viêm lọi 3.
Căn nguyên bệnh sâu răng [12], [28] Sâu răng là một quá trình bệnh lý xuất hiện sau khi răng đã mọc, đặc trưng bởi sự khử khoáng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà răng tạo thành lồ sâu. Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do nhiều nguyên nhân với sự tác động cùa 3 yếu tố. Vi khuẩn ừong miệng (chủ yếu là streptococcus mutans) lên men các chất bột và đường còn dính lại răng tạo thành acid, acid này đã phá hủy tố chức cứng của răng tạo thành lồ sâu. Sự phối hợp của các yếu tố này đe gây sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ Keys.
So* đồ Keys 10 Với sơ đồ Keys, người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuân streptococcus mutans do đó việc dự phòng cũng chú ý quan tâm đến che độ ăn hạn chế đường và VSRM. Khi áp dụng vào thực tế phòng bệnh sâu răng thấy kết quả đạt được không cao, tỷ lệ sâu răng giảm xuống không đáng ke. Sau năm 1975 người ta đã làm sáng tở hơn căn nguyên gây bệnh sâu răng và đưa ra sơ đồ White thay thế một vòng ừòn trong sơ do Keys. - Thức ăn được thay thế bằng chất nền.
- Nhấn mạnh vai trò của nước bọt và pH của dòng chảy môi trường xung quanh răng.