Thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử pháp luật thực tiễn và giải pháp

Luận án về thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong TMĐT ở Việt Nam. Nghiên cứu pháp luật, thực tiễn và giải pháp, bảo vệ nhãn hiệu trực tuyến.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

197
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1. Một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

1.1.1. Khái quát về thương mại điện tử

1.1.2. Mối quan hệ giữa nhãn hiệu và thương mại điện tử

1.1.3. Khái niệm và đặc điểm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

1.1.4. Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

1.1.5. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

1.1.5.1. Khái niệm thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử
1.1.5.2. Đặc điểm thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử
1.1.5.3. Ý nghĩa của thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

1.1.6. Khái quát pháp luật về thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

1.1.6.1. Khung pháp luật thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử
1.1.6.2. Nội dung pháp luật thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

2. CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

2.1. Quy định pháp luật Việt Nam về thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

2.1.1. Quy định về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại điện tử

2.1.2. Các biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử ở Việt Nam

2.1.3. Đánh giá quy định pháp luật thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

2.2. Thực tiễn thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử tại Việt Nam

2.2.1. Thực tiễn xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

2.2.2. Thực tiễn áp dụng các biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

2.2.3. Đánh giá thực tiễn thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối nhãn hiệu trong thương mại điện tử

3.1.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối nhãn hiệu trong thương mại điện tử

3.1.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử

3.1.3. Giải pháp hoàn thiện về pháp luật xác định hành vi phạm xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và các biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

3.1.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối nhãn hiệu trong thương mại điện tử

3.1.4.1. Các giải pháp đối với chủ thể quyền
3.1.4.2. Các giải pháp đối với cơ quan nhà nước
3.1.4.3. Các giải pháp đối với nhà cung cấp dịch vụ trung gian
3.1.4.4. Các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về Thực thi Quyền SHCN Nhãn Hiệu TMĐT Tại sao

Thương mại điện tử (TMĐT) đang phát triển mạnh mẽ, trở thành xu hướng kinh doanh không thể đảo ngược. Báo cáo TMĐT Việt Nam năm 2023 cho thấy, năm 2022, 60,7% người dùng Internet mua sắm trực tuyến hàng tuần, dự kiến quy mô nền kinh tế Internet của Việt Nam sẽ tăng lên 32 tỷ đô vào năm 2025. Sự tăng trưởng này kéo theo nhiều thách thức, trong đó có vấn đề thực thi quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với nhãn hiệu. Nhãn hiệu là tài sản trí tuệ quan trọng, mang lại danh tiếng và lợi thế thương mại cho chủ sở hữu. Tuy nhiên, nhãn hiệu lại dễ bị sao chép, xâm phạm trong môi trường TMĐT. Việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp nhãn hiệu là yếu tố then chốt đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và thương mại điện tử tại Việt Nam. Theo Chiến lược SHTT đến năm 2030, cần tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền SHTT, đặc biệt trong môi trường kỹ thuật số.

1.1. Tầm quan trọng của bảo vệ Nhãn Hiệu trong Thương Mại Điện Tử

Nhãn hiệu đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng uy tín và sự tin cậy của doanh nghiệp trên thị trường trực tuyến. Việc bảo vệ nhãn hiệu không chỉ giúp doanh nghiệp tránh khỏi thiệt hại do hàng giả, hàng nhái gây ra mà còn góp phần xây dựng niềm tin của người tiêu dùng. Điều này đặc biệt quan trọng trong thương mại điện tử, nơi người tiêu dùng thường dựa vào nhãn hiệu để đánh giá chất lượng và độ tin cậy của sản phẩm. Các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp cần chủ động bảo vệ tài sản trí tuệ của mình trên môi trường mạng. "Nhãn hiệu là một trong những tài sản trí tuệ của chủ thể quyền có thể mang lại danh tiếng, lợi thế thương mại cao, giá trị lớn hoặc rất lớn cho chủ sở hữu trong TMĐT".

1.2. Thách thức từ Vi phạm Nhãn Hiệu Online trong TMĐT

Sự phát triển của thương mại điện tử cũng kéo theo sự gia tăng các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nhãn hiệu. Hàng giả, hàng nhái dễ dàng trà trộn vào thị trường trực tuyến, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp và người tiêu dùng. Việc xác định chủ thể xâm phạm, yếu tố xâm phạm trên môi trường mạng trở nên phức tạp hơn. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên miền cũng là một thách thức lớn. Số lượng các vụ vi phạm nhãn hiệu online ngày càng tăng, gây áp lực lên các cơ quan chức năng. "Thực tiễn cho thấy, việc thực thi quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT có những khó khăn, cụ thể như: xác định chủ thể xâm phạm và yếu tố xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu trên TMĐT; xác định giá trị hàng hoá xâm phạm…".

II. Các Hành vi Xâm phạm Quyền SHCN Nhãn Hiệu trên TMĐT

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trên TMĐT diễn ra dưới nhiều hình thức tinh vi. Việc sử dụng trái phép nhãn hiệu đã được bảo hộ, bán hàng giả, hàng nhái là những hành vi phổ biến. Bên cạnh đó, các hành vi sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn, quảng cáo sai sự thật, lợi dụng uy tín của nhãn hiệu khác để bán hàng cũng là những vi phạm nghiêm trọng. Việc xác định và xử lý các hành vi này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, chủ thể quyền và các sàn giao dịch thương mại điện tử. Cơ quan thực thi quyền cần chủ động phối hợp để bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp.

2.1. Bán Hàng Giả Hàng Nhái Vi phạm nghiêm trọng Quyền SHCN

Bán hàng giả, hàng nhái là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nhãn hiệu nghiêm trọng nhất, gây thiệt hại nặng nề cho chủ sở hữu nhãn hiệu và ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp. Trên các sàn giao dịch thương mại điện tử, hàng giả, hàng nhái trà trộn rất tinh vi, gây khó khăn cho người tiêu dùng trong việc phân biệt hàng thật hàng giả. Các doanh nghiệp cần chủ động áp dụng các biện pháp bảo vệ thương hiệu trực tuyến, như đăng ký nhãn hiệu, giám sát hoạt động bán hàng trên các sàn TMĐT, phối hợp với các cơ quan chức năng để xử lý các hành vi vi phạm. "Nhãn hiệu mang đặc điểm rất dễ dàng sao chép, bắt chước và xâm phạm không chỉ trong thương mại truyền thống mà còn gia tăng đáng kể trong TMĐT."

2.2. Sử dụng Tên miền Gây Nhầm lẫn Cạnh tranh không lành mạnh TMĐT

Việc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nhãn hiệu. Hành vi này gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu, làm giảm uy tín và doanh thu của doanh nghiệp. Luật sở hữu trí tuệ cần có quy định cụ thể về xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến tên miền trong thương mại điện tử. Các tổ chức như ICANN và VNNIC đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp tên miền, bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu nhãn hiệu.

2.3. Quảng cáo sai sự thật ảnh hưởng đến uy tín Nhãn Hiệu

Quảng cáo sai sự thật, gây hiểu lầm về chất lượng, nguồn gốc sản phẩm là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng và ảnh hưởng đến uy tín của nhãn hiệu. Trên môi trường thương mại điện tử, hành vi này diễn ra ngày càng phổ biến và tinh vi. Các cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động quảng cáo trực tuyến, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Người tiêu dùng cần nâng cao ý thức, phân biệt hàng thật hàng giả, tránh bị lừa đảo. Các giải pháp bảo vệ nhãn hiệu bao gồm việc giám sát và báo cáo các quảng cáo sai sự thật.

III. Pháp Luật về Thực thi Quyền SHCN Nhãn Hiệu trong TMĐT

Hệ thống pháp luật Việt Nam về thực thi quyền sở hữu công nghiệp trong TMĐT còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp thời sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực này. Các quy định về xử lý vi phạm nhãn hiệu online nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng. Cần có sự sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo vệ hiệu quả quyền sở hữu công nghiệp nhãn hiệu trong môi trường TMĐT. Các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như CPTPP, EVFTA cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn về thực thi quyền.

3.1. Các Văn bản Pháp luật điều chỉnh Thực thi Quyền SHCN

Quy trình thực thi quyền sở hữu công nghiệp cần được đơn giản hóa, hiệu quả hơn để đối phó với các hành vi xâm phạm trên sàn giao dịch thương mại điện tử.

3.2. Bất cập trong quy định về Hành vi xâm phạm quyền SHCN

Thủ tục khiếu nại vi phạm nhãn hiệu cũng cần được cải thiện để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.

3.3. Trách nhiệm của Sàn TMĐT trong bảo vệ Nhãn hiệu

Biện pháp ngăn chặn vi phạm cần được các sàn giao dịch thương mại điện tử thực hiện nghiêm túc.

IV. Giải pháp Thực thi Quyền SHCN Nhãn Hiệu hiệu quả trong TMĐT

Để nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu công nghiệp nhãn hiệu trong TMĐT, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng, chủ thể quyền, sàn giao dịch thương mại điện tử và người tiêu dùng. Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp nhãn hiệu.

4.1. Hoàn thiện Pháp luật về Thực thi Quyền SHCN trong TMĐT

Căn cứ pháp lý thực thi quyền cần được củng cố và làm rõ.

4.2. Tăng cường Kiểm tra Giám sát và Xử lý Vi phạm Nhãn Hiệu

Cần có chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm để xử lý các trường hợp vi phạm nhãn hiệu online.

4.3. Nâng cao Nhận thức về bảo vệ Quyền SHCN Nhãn Hiệu

Giải pháp công nghệ cho bảo vệ nhãn hiệu cần được ứng dụng rộng rãi.

V. Thực tiễn Thực thi Quyền SHCN Nhãn hiệu TMĐT tại Việt Nam

Thực tiễn thực thi quyền sở hữu công nghiệp nhãn hiệu trong thương mại điện tử tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Việc xác định và chứng minh hành vi xâm phạm trên môi trường mạng gặp nhiều khó khăn. Thủ tục xử lý vi phạm còn phức tạp, kéo dài. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, chủ thể quyền và các sàn TMĐT chưa thực sự hiệu quả. Cần có những giải pháp đồng bộ để khắc phục những hạn chế này.

5.1. Khó khăn trong Xác định Hành vi Xâm phạm Quyền SHCN

Việc xác định và chứng minh hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nhãn hiệu trên môi trường mạng là một thách thức lớn. Các đối tượng vi phạm thường sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để che giấu hành vi, gây khó khăn cho việc thu thập bằng chứng. Các cơ quan chức năng cần trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn để xác định hành vi xâm phạm quyền hiệu quả.

5.2. Thủ tục Xử lý Vi phạm còn Phức tạp và Kéo dài

Quy trình thực thi quyền còn phức tạp, kéo dài, gây tốn kém thời gian và chi phí cho các chủ thể quyền. Cần có sự cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý vi phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi của mình. Các doanh nghiệp cần khiếu nại vi phạm nhãn hiệu online một cách bài bản và có hệ thống.

VI. Tương lai Thực thi Quyền SHCN Nhãn Hiệu Xu hướng Cơ hội

Với sự phát triển không ngừng của TMĐT, việc thực thi quyền sở hữu công nghiệp nhãn hiệu sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Các giải pháp công nghệ, như trí tuệ nhân tạo, blockchain, sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm. Sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này cũng sẽ được tăng cường. Các doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt xu hướng, tận dụng cơ hội để bảo vệ thương hiệu của mình.

6.1. Ứng dụng Công nghệ vào Giám sát và Xử lý Vi phạm

Các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, blockchain có thể được ứng dụng để giám sát hoạt động kinh doanh trên các sàn giao dịch thương mại điện tử, phát hiện các sản phẩm giả mạo, các hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp nhãn hiệu. Các công nghệ này cũng có thể giúp tự động hóa quy trình thực thi quyền, giảm thiểu chi phí và thời gian xử lý vi phạm.

6.2. Hợp tác Quốc tế trong Thực thi Quyền SHCN

Hiệp định thương mại và sở hữu trí tuệ cần được thực thi nghiêm túc để bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp.

13/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận về thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử. Chương 2: Pháp luật và thực tiễn thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử ở Việt Nam. Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử. 6 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Thực thi quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT là một vấn đề dành được sự quan tâm từ rất sớm tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển, trong khi đó, vấn đề này tại Việt Nam chỉ thực sự được quan tâm khi TMĐT có sự phát triển bùng nổ như hiện nay.

Do đó, để định hướng những vấn đề sẽ tiếp tục phát triển nghiên cứu trong luận án, NCS đã tập hợp và đánh giá các tài liệu trong nước và nước ngoài nhằm nêu ra những kết quả đã đạt được và những vấn đề chưa giải quyết được trong các công trình nghiên cứu được liệt kê dưới đây. Các công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đề tài của luận án 1. Tình hình nghiên cứu trong nước 1.1 Nhóm các công trình liên quan đến thương mại điện tử và quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử Trong quá trình tập hợp tài liệu liên quan đến nội dung TMĐT và quyền SHTT trong TMĐT, NCS nhận thấy rằng, một số công trình sau đã có những nhìn nhận và đánh giá một các tổng quan: Tào Thị Quyên và Lương Tuấn Nghĩa4 (2016) “Hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay”. Cuốn sách nghiên cứu khái quát về lý luận, thực tiễn về pháp luật TMĐT ở Việt Nam, có sự phân tích và so sánh với pháp luật về TMĐT của một số nước trên thế giới.

Trong đó, cuốn sách có đề cập đến nội dung về bảo hộ quyền SHTT trong môi trường internet, phân tích quy định của pháp luật về cơ chế giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia. Đối với nội dung về quyền SHTT, cuốn sách bước đầu dừng lại ở việc nêu và khái quát vấn đề, chưa có phân tích sâu về lý luận, pháp luật và thực tiễn. Lê Văn Thiệp5 (2016), luận án tiến sĩ “Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay”. Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật, thực trạng pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về TMĐT.

Trong đó, tác giả có nội dung đề cập tới các đối tượng của quyền SHTT cần bảo hộ trong TMĐT bao gồm: sáng chế, nhãn hiệu và quyền tác giả. Đào Tuấn Anh6 (2014), luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước về thương mại điện tử”. Luận án đã nghiên cứu cơ sở lý luận về TMĐT và quản lý nhà nước về 4. Tào Thị Quyên, Lương Tuấn Nghĩa (2016), Hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

Lê Văn Thiệp (2016), Pháp Luật về thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viên Khoa học Xã hội, Hà Nội. Đào Tuấn Anh (2014), Quản lý nhà nước về thương mại điện tử, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. Luận án có đề cập đến xây dựng và hoàn thiện các chính sách TMĐT liên quan đến chính sách bảo vệ người tiêu dùng, bảo hộ quyền SHTT,. Tuy nhiên, chưa giải quyết nội dung pháp luật và thực tiễn về quyền SHTT trong TMĐT, mà chỉ dừng lại ở việc nêu ra vấn đề, cách tiếp cận khái quát.

Đây là tài liệu mà NCS có thể kế thừa và phát triển nội dung vấn đề lý luận về TMĐT dưới góc độ quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, có một số cuốn sách, giáo trình khác có liên quan đến đề tài TMĐT. Trong đó, trình bày các nội dung cơ bản về TMĐT và đề cập rất khái quát đến quyền SHTT trong TMĐT, tập trung chủ yếu tới sáng chế, quyền tác giả và nhãn hiệu là những đối tượng dễ bị xâm phạm trong môi trường TMĐT 7. Vũ Thị Phương Lan8 (2017), đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường “Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số”.

Đề tài tập trung về quyền tác giả, và phạm vi nghiên cứu của đề tài là môi trường kỹ thuật số, bao hàm hoạt động thương mại và phi thương mại. Đề tài này mang tính chất gợi mở về cách thức nghiên cứu quyền SHTT trong môi trường kĩ thuật số, trong sự tương đồng về phạm vi nghiên cứu ở Việt Nam và có sự so sánh đánh giá với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. Phạm Thị Mai Khanh9 (2016), luận án tiến sĩ “Quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường thương mại điện tử” đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn dưới góc độ kinh tế học, việc bảo hộ quyền SHTT gắn với các hoạt động TMĐT điển hình của doanh nghiệp như tạo lập, quảng bá trang TMĐT. Luận án cũng đánh giá ý nghĩa kinh tế của các giải pháp bảo hộ quyền SHTT đối với hoạt động TMĐT.

Luận án là một công trình có giá trị lớn đối với NCS và gợi mở rất hữu ích cho hướng nghiên cứu của NCS khi thực hiện đề tài của mình. Vũ Thị Phương Lan10 (2003), “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong Internet”. Bài viết bàn một số nội dung về Internet, tên miền và ảnh hưởng của chúng tới các vấn đề bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá; nêu ra một số so sánh những nội dung của pháp luật về hai khía cạnh: Đăng kí nhãn hiệu hàng hoá có dấu hiệu phổ biến của tên miền, Các hoạt động đăng kí tên miền ảnh hưởng tới quyền nhãn hiệu hàng hoá, liên quan của Internet và tên miền đối với việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong pháp luật của EU, Hoa Kì, Nhật Bản, Việt Nam. Ao Thu Hoài, Nguyễn Việt Khôi (2016), Thương mại điện tử, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội; TS.

Nguyễn Văn Hùng (2013), Cẩm nang thương mại điện tử, Nxb Kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Hòe (2010), Giáo trình Thương mại điện tử căn bản, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội; Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Văn Thoan (2012), Giáo trình Thương mại điện tử căn bản, Nxb thống kê, Hà Nội 8. Vũ Thị Phương Lan (chủ nhiệm đề tài) (2017), Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Phạm Thị Mai Khanh (2016), Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội. Vũ Thị Phương Lan (2003), “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong Internet”, Tạp chí Luật học, số 1.

8 Trần Thị Thanh Huyền11 (2019) là tác giả của bài viết “Một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử”. Bài viết trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT, trong đó một số vấn đề cũng được nêu ra như mối quan hệ giữa bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu và TMĐT; vấn đề pháp lý cơ bản liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu trong TMĐT. Nhóm các công trình liên quan đến thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử Nguyễn Thanh Tâm12 (2006), “Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại”. Cuốn sách nghiên cứu quyền SHCN trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.

Tài liệu tập trung làm rõ vấn đề cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền trong lĩnh vực SHCN, đồng thời, trình bày kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về những vấn đề liên quan đến quyền SHCN, trong đó, có các biện pháp thực thi quyền SHCN trong hoạt động thương mại. Tuy chưa tiếp cận trong môi trường TMĐT, nhưng cuốn sách là một tài liệu có giá trị tham khảo, gợi mở, định hướng cho NCS khi nghiên cứu quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong thương mại. Kiều Thị Thanh13 (2013), “Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam”. Cuốn sách đề cập vấn đề về thực thi quyền SHTT trong thời kỳ hội nhập quốc tế, bên cạnh việc giới thiệu yêu cầu quốc tế về thực thi quyền SHTT, thực thi quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam thông qua thủ tục dân sự, hành chính.

Đặng Thị Hoài Thu14 (2006) với đề tài: “Thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam trước những yêu cầu hội nhập WTO”. Trong luận văn, tác giả đã có nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về thực thi quyền SHCN ở Việt Nam, trên cơ sở so sánh, đánh giá với thực thi quyền SHCN của TRIPs. Nguyễn Quỳnh Trang15 (2019), “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử - kinh nghiệm quốc tế và hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT trong TMĐT, bao gồm: xâm phạm quyền tác giả và quyền SHCN trong TMĐT; cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên miền và quảng cáo xâm phạm quyền SHTT trong TMĐT.

Đề tài là một nguồn tham khảo có giá trị trong quá trình nghiên cứu của NCS. Trần Thị Thanh Huyền (2019), “Một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10. Nguyễn Thanh Tâm (2006), Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại, Nxb Tư pháp, Hà Nội. Kiều Thị Thanh (2013), Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, Nxb Chính trị - hành chính, Hà Nội.

Đặng Thị Hoài Thu (2006), Thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam trước những yêu cầu hội nhập WTO, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Nguyễn Quỳnh Trang (chủ nhiệm) (2019), Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử - kinh nghiệm quốc tế và hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội. 9 Nguyễn Xuân Quang16 (2015), luận án tiến sĩ “Xử lý vi phạm nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam”. Tác giả đã tiếp cận vấn đề xử lý vi phạm nhãn hiệu dưới góc độ pháp luật kinh tế.

Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý vi phạm nhãn hiệu trong mối tương quan so sánh với pháp luật quốc tế nhưng mới chỉ giới hạn ở Hiệp định TRIPS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ