Chương 1: Lý luận về thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử. Chương 2: Pháp luật và thực tiễn thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử ở Việt Nam. Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử. 6 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Thực thi quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT là một vấn đề dành được sự quan tâm từ rất sớm tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển, trong khi đó, vấn đề này tại Việt Nam chỉ thực sự được quan tâm khi TMĐT có sự phát triển bùng nổ như hiện nay.
Do đó, để định hướng những vấn đề sẽ tiếp tục phát triển nghiên cứu trong luận án, NCS đã tập hợp và đánh giá các tài liệu trong nước và nước ngoài nhằm nêu ra những kết quả đã đạt được và những vấn đề chưa giải quyết được trong các công trình nghiên cứu được liệt kê dưới đây. Các công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đề tài của luận án 1. Tình hình nghiên cứu trong nước 1.1 Nhóm các công trình liên quan đến thương mại điện tử và quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử Trong quá trình tập hợp tài liệu liên quan đến nội dung TMĐT và quyền SHTT trong TMĐT, NCS nhận thấy rằng, một số công trình sau đã có những nhìn nhận và đánh giá một các tổng quan: Tào Thị Quyên và Lương Tuấn Nghĩa4 (2016) “Hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay”. Cuốn sách nghiên cứu khái quát về lý luận, thực tiễn về pháp luật TMĐT ở Việt Nam, có sự phân tích và so sánh với pháp luật về TMĐT của một số nước trên thế giới.
Trong đó, cuốn sách có đề cập đến nội dung về bảo hộ quyền SHTT trong môi trường internet, phân tích quy định của pháp luật về cơ chế giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia. Đối với nội dung về quyền SHTT, cuốn sách bước đầu dừng lại ở việc nêu và khái quát vấn đề, chưa có phân tích sâu về lý luận, pháp luật và thực tiễn. Lê Văn Thiệp5 (2016), luận án tiến sĩ “Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay”. Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật, thực trạng pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về TMĐT.
Trong đó, tác giả có nội dung đề cập tới các đối tượng của quyền SHTT cần bảo hộ trong TMĐT bao gồm: sáng chế, nhãn hiệu và quyền tác giả. Đào Tuấn Anh6 (2014), luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước về thương mại điện tử”. Luận án đã nghiên cứu cơ sở lý luận về TMĐT và quản lý nhà nước về 4. Tào Thị Quyên, Lương Tuấn Nghĩa (2016), Hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
Lê Văn Thiệp (2016), Pháp Luật về thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viên Khoa học Xã hội, Hà Nội. Đào Tuấn Anh (2014), Quản lý nhà nước về thương mại điện tử, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. Luận án có đề cập đến xây dựng và hoàn thiện các chính sách TMĐT liên quan đến chính sách bảo vệ người tiêu dùng, bảo hộ quyền SHTT,. Tuy nhiên, chưa giải quyết nội dung pháp luật và thực tiễn về quyền SHTT trong TMĐT, mà chỉ dừng lại ở việc nêu ra vấn đề, cách tiếp cận khái quát.
Đây là tài liệu mà NCS có thể kế thừa và phát triển nội dung vấn đề lý luận về TMĐT dưới góc độ quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, có một số cuốn sách, giáo trình khác có liên quan đến đề tài TMĐT. Trong đó, trình bày các nội dung cơ bản về TMĐT và đề cập rất khái quát đến quyền SHTT trong TMĐT, tập trung chủ yếu tới sáng chế, quyền tác giả và nhãn hiệu là những đối tượng dễ bị xâm phạm trong môi trường TMĐT 7. Vũ Thị Phương Lan8 (2017), đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường “Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số”.
Đề tài tập trung về quyền tác giả, và phạm vi nghiên cứu của đề tài là môi trường kỹ thuật số, bao hàm hoạt động thương mại và phi thương mại. Đề tài này mang tính chất gợi mở về cách thức nghiên cứu quyền SHTT trong môi trường kĩ thuật số, trong sự tương đồng về phạm vi nghiên cứu ở Việt Nam và có sự so sánh đánh giá với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. Phạm Thị Mai Khanh9 (2016), luận án tiến sĩ “Quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường thương mại điện tử” đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn dưới góc độ kinh tế học, việc bảo hộ quyền SHTT gắn với các hoạt động TMĐT điển hình của doanh nghiệp như tạo lập, quảng bá trang TMĐT. Luận án cũng đánh giá ý nghĩa kinh tế của các giải pháp bảo hộ quyền SHTT đối với hoạt động TMĐT.
Luận án là một công trình có giá trị lớn đối với NCS và gợi mở rất hữu ích cho hướng nghiên cứu của NCS khi thực hiện đề tài của mình. Vũ Thị Phương Lan10 (2003), “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong Internet”. Bài viết bàn một số nội dung về Internet, tên miền và ảnh hưởng của chúng tới các vấn đề bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá; nêu ra một số so sánh những nội dung của pháp luật về hai khía cạnh: Đăng kí nhãn hiệu hàng hoá có dấu hiệu phổ biến của tên miền, Các hoạt động đăng kí tên miền ảnh hưởng tới quyền nhãn hiệu hàng hoá, liên quan của Internet và tên miền đối với việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong pháp luật của EU, Hoa Kì, Nhật Bản, Việt Nam. Ao Thu Hoài, Nguyễn Việt Khôi (2016), Thương mại điện tử, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội; TS.
Nguyễn Văn Hùng (2013), Cẩm nang thương mại điện tử, Nxb Kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Hòe (2010), Giáo trình Thương mại điện tử căn bản, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội; Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Văn Thoan (2012), Giáo trình Thương mại điện tử căn bản, Nxb thống kê, Hà Nội 8. Vũ Thị Phương Lan (chủ nhiệm đề tài) (2017), Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Phạm Thị Mai Khanh (2016), Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội. Vũ Thị Phương Lan (2003), “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong Internet”, Tạp chí Luật học, số 1.
8 Trần Thị Thanh Huyền11 (2019) là tác giả của bài viết “Một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử”. Bài viết trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT, trong đó một số vấn đề cũng được nêu ra như mối quan hệ giữa bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu và TMĐT; vấn đề pháp lý cơ bản liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu trong TMĐT. Nhóm các công trình liên quan đến thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử Nguyễn Thanh Tâm12 (2006), “Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại”. Cuốn sách nghiên cứu quyền SHCN trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.
Tài liệu tập trung làm rõ vấn đề cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền trong lĩnh vực SHCN, đồng thời, trình bày kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về những vấn đề liên quan đến quyền SHCN, trong đó, có các biện pháp thực thi quyền SHCN trong hoạt động thương mại. Tuy chưa tiếp cận trong môi trường TMĐT, nhưng cuốn sách là một tài liệu có giá trị tham khảo, gợi mở, định hướng cho NCS khi nghiên cứu quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong thương mại. Kiều Thị Thanh13 (2013), “Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam”. Cuốn sách đề cập vấn đề về thực thi quyền SHTT trong thời kỳ hội nhập quốc tế, bên cạnh việc giới thiệu yêu cầu quốc tế về thực thi quyền SHTT, thực thi quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam thông qua thủ tục dân sự, hành chính.
Đặng Thị Hoài Thu14 (2006) với đề tài: “Thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam trước những yêu cầu hội nhập WTO”. Trong luận văn, tác giả đã có nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về thực thi quyền SHCN ở Việt Nam, trên cơ sở so sánh, đánh giá với thực thi quyền SHCN của TRIPs. Nguyễn Quỳnh Trang15 (2019), “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử - kinh nghiệm quốc tế và hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT trong TMĐT, bao gồm: xâm phạm quyền tác giả và quyền SHCN trong TMĐT; cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên miền và quảng cáo xâm phạm quyền SHTT trong TMĐT.
Đề tài là một nguồn tham khảo có giá trị trong quá trình nghiên cứu của NCS. Trần Thị Thanh Huyền (2019), “Một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10. Nguyễn Thanh Tâm (2006), Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại, Nxb Tư pháp, Hà Nội. Kiều Thị Thanh (2013), Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, Nxb Chính trị - hành chính, Hà Nội.
Đặng Thị Hoài Thu (2006), Thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam trước những yêu cầu hội nhập WTO, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Nguyễn Quỳnh Trang (chủ nhiệm) (2019), Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử - kinh nghiệm quốc tế và hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội. 9 Nguyễn Xuân Quang16 (2015), luận án tiến sĩ “Xử lý vi phạm nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam”. Tác giả đã tiếp cận vấn đề xử lý vi phạm nhãn hiệu dưới góc độ pháp luật kinh tế.
Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý vi phạm nhãn hiệu trong mối tương quan so sánh với pháp luật quốc tế nhưng mới chỉ giới hạn ở Hiệp định TRIPS.