Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác thực thi các chính sách phát triển du lịch tỉnh Quảng Nam. Chương 2: Thực trạng công tác thực thi các chính sách phát triển về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thực thi các chính sách phát triển du lịch tỉnh Quảng Nam. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.
Khái quát về phát triển du lịch 1. Khái niệm du lịch Khái niệm về du lịch được sử dụng rộng rãi hiện nay thường dựa vào sự chuyển động của con người trên một khoảng cách nơi xuất phát và nơi đến, thời gian và mục đích chuyến đi. Vì vậy, thuật ngữ du lịch là chuyển động của con người đã được Tổ chức Du lịch Thế giới và các nước Mỹ, Anh, Canada, Úc, chấp thuận. Nhưng điều này gây ra những khó khăn về thông tin thống kê cho các học giả khi sử dụng để phát triển cơ sở dữ liệu, mô tả hiện tượng du lịch và phân tích nó.
Khái niệm về du lịch theo quan điểm rộng rãi hiện nay được Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa - Canada tháng 6 năm 1991 đưa ra: "Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong khoảng thời gian đã được tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của vùng tới thăm". Định nghĩa trong Từ điển Bách khoa về Du lịch (Viện hàn lâm): Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch… Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đó được chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ. Luật Du lịch năm 2005 định nghĩa: "Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”. Theo quan niệm trên thì du lịch bao gồm các yếu tố dưới đây: 9 - Khách du lịch: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
Khách du lịch là những người đi du lịch với mục đích là luôn muốn khám phá thế giới tự nhiên, xã hội nhằm thoả mãn nhu cầu về tâm lý và tinh thần. Vì vậy, khách du lịch thường quan tâm sản phẩm du lịch nơi họ đến. Nên vấn đề khai thác tài nguyên, tổ chức các dịch vụ tại các điểm du lịch là một trong yếu tố quan trọng để khách du lịch sẽ quyết định đến việc lựa chọn điểm đến và các hoạt động du lịch trong chuyến đi của họ. - Hoạt động du lịch: trên cơ sở mục đích của khách du lịch có thể thấy.
Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, của cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch. Trong hoạt động du lịch các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho khách du lịch là những nhà kinh doanh họ coi du lịch là một cơ hội lớn để thu lợi bằng việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ mà thị trường du khách yêu cầu. Chính phủ của các nước, những nhà chính trị coi hoạt động du lịch là yếu tố thiết yếu đối với nền kinh tế thông qua các khoản thuế từ chi tiêu của du khách và gắn liền với thu nhập của người dân. Dân cư tại điểm du lịch là người dân địa phương tại các điểm du lịch họ thường coi du lịch như một nhân tố văn hoá và việc làm.
Với cách hiểu trên đây cho thấy du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch. Bản chất của du lịch là “ngành kinh tế dịch vụ”. Dịch vụ du lịch là một loại hình dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu cho khách du lịch trong suốt thời gian đi du lịch. Du lịch một mặt mang ý nghĩa thông thường việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi giải trí mặt khác, du lịch là hoạt động gắn chặt với kết quả kinh tế, sản xuất, tiêu thụ do chính nó tạo ra.
Phát triển du lịch được định nghĩa tại Luật Du lịch 2017 như sau: Phát triển du lịch là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và 10 môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai. Phát triển du lịch là sự đáp ứng đầy đủ nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút du khách đến vùng, điểm du lịch ngày nay đồng thời bảo vệ và nâng chất lượng cho tương lai. Nó được định ra để hướng việc quản lý toàn bộ các tài nguyên, các điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá kèm theo, theo cách mà chúng ta có thể thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, đồng thời duy trì tính toàn vẹn về văn hoá, các quá trình sinh thái chủ yếu, sự đa dạng sinh học và các hệ thống duy trì nuôi dưỡng sự sống. Phát triển du lịch là việc quản lý toàn bộ các thành phần cấu thành ngành du lịch đảm bảo phát triển cân bằng để có thể mang lại những kết quả có lợi về kinh tế, xã hội mang tính lâu dài mà không gây ra những tổn hại cho môi trường tự nhiên và bản sắc văn hoá của du lịch.
Quá trình phát triển du lịch phải kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ và sản xuất và tiêu dùng du lịch, nhằm mục đích bảo tồn và tái tạo nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn và phát huy bảo sắc văn hoá dân tộc. Vai trò của phát triển du lịch Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển. Sự khác biệt giữa tiêu dùng dịch vụ du lịch và tiêu dùng các hàng hoá khác là tiêu dùng các sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng. Đây cũng là lý do làm cho sản phẩm du lịch mang tính đặc thù mà không thể so sánh giá cả của sản phẩm du lịch này với giá cả của sản phẩm du lịch kia một cách tuỳ tiện được.
Sự tác động qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch tác động lên lĩnh vực phân phối lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội. Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch sẽ k o theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cán cân thu chi của đất nước. Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ của đất nước đó.
Ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ 11 tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch ở nước ngoài. Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hoá, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế k m phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa… Một lợi ích khác mà ngành du lịch đem lại là góp phần giải quyết vấn đề việc làm. Bởi các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều cần một lượng lớn lao động. Du lịch đã tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động, giải quyết các vấn đề xã hội Khi nhìn dưới góc độ kinh tế - xã hội, du lịch luôn là một ngành có tính trường tồn và bền vững cao so với các ngành kinh tế khác.
Nguyên do vì, các nguồn tài nguyên du lịch dưới dạng vật thể và phi vật thể theo quy luật chung luôn được coi là hữu hạn, thì bên cạnh đó còn một số hợp phần khác cũng cần phải được tính đến. Chúng được kh o l o ẩn và tích tụ trong các “chuỗi dịch vụ” để hình thành nên các sản phẩm du lịch và thậm chí tồn tại trong cả những đối tượng sử dụng dịch vụ - đó là những “người khách du lịch”. Những yếu tố này là tác nhân không thể thiếu được để tạo ra cầu cho hoạt động du lịch, hay có thể xem là “nguồn tài nguyên du lịch” vô cùng to lớn và bất tận. Chính sách phát triển du lịch 1.
Khái niệm, vai trò của chính sách phát triển du lịch 1. Khái niệm chính sách phát triển du lịch Đảng và Nhà nước ta xác định du lịch là lĩnh vực cần đầu tư phát triển trong thời gian tới. Đặc biệt, đầu năm 2017, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08- NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Sau khi khẳng định một số thành tựu của ngành du lịch trong 15 năm qua, chỉ r một số hạn chế, yếu k m và nguyên nhân, Nghị quyết đã xác định mục tiêu: “Đến năm 2020, ngành du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực,.; đóng góp trên 10% GDP, tổng thu từ khách du lịch đạt 35 tỷ USD; giá trị xuất khẩu 12 thông qua du lịch đạt 20 tỷ USD; tạo ra 4 triệu việc làm, trong đó có 1,6 triệu việc làm trực tiếp” Để phát triển du lịch, Nhà nước đã ban hành chính sách phát triển du lịch.