Thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện tại Sơn La - Luận văn ThS. Nguyễn Thị Phương

Nghiên cứu thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện tại tỉnh Sơn La, luận văn thạc sĩ luật cung cấp cái nhìn sâu sắc và phân tích chi tiết.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

96
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh pháp luật về BHXH tự nguyện tại tỉnh Sơn La

Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) là một cấu phần quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội quốc gia, đặc biệt có ý nghĩa đối với các địa phương có tỷ lệ lao động phi chính thức cao như Sơn La. Luận văn thạc sỹ luật của Nguyễn Thị Phương đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc về chủ đề “Thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Sơn La”, làm rõ các khía cạnh lý luận và thực tiễn. Về bản chất, pháp luật về BHXH tự nguyện là hệ thống các quy định do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện chính sách này. Nó bao gồm các quy định về đối tượng, mức đóng, phương thức đóng, chế độ hưởng, và quản lý nhà nước. Đặc điểm nổi bật của loại hình này là tính tự nguyện, cho phép người lao động tự do lựa chọn tham gia, lựa chọn mức đóng phù hợp với thu nhập, và được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí. Vai trò của pháp luật BHXHTN không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo thu nhập cho người lao động khi hết tuổi lao động hoặc qua đời, mà còn góp phần ổn định xã hội, phân phối lại thu nhập, và củng cố mối quan hệ giữa người dân và Nhà nước. Việc nghiên cứu các quy định hiện hành là tiền đề để đánh giá đúng thực trạng thi hành pháp luật BHXH tự nguyện tại Sơn La.

1.1. Phân tích cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật BHXH

Thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện được hiểu là hành vi thực tế, hợp pháp và có mục đích của các chủ thể nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật. Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật được thể hiện qua bốn hình thức chính. Thứ nhất là tuân thủ pháp luật, tức là các chủ thể kiềm chế không thực hiện những hành vi bị cấm như trốn đóng, gian lận hồ sơ. Thứ hai là thi hành (chấp hành) pháp luật, đòi hỏi các chủ thể thực hiện nghĩa vụ bằng hành động tích cực, ví dụ như cơ quan BHXH phải tuyên truyền chính sách, cấp sổ, chi trả chế độ. Thứ ba là sử dụng pháp luật, nơi các chủ thể thực hiện quyền của mình, như người lao động có quyền tham gia, hưởng chế độ, khiếu nại. Cuối cùng là áp dụng pháp luật, hình thức đặc thù do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện để cá biệt hóa quy phạm vào từng trường hợp cụ thể. Việc thực hiện pháp luật này phải tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi: mức hưởng dựa trên mức đóng và thời gian đóng; quỹ BHXH được quản lý thống nhất, công khai, minh bạch; và quy trình phải đơn giản, thuận tiện, đảm bảo quyền lợi người tham gia.

1.2. Xác định đối tượng quyền và nghĩa vụ người tham gia

Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Đây chủ yếu là nhóm lao động tự do, nông dân, người tự tạo việc làm – lực lượng chiếm tỷ lệ lớn tại một tỉnh miền núi như Sơn La. Khi tham gia, người lao động có các quyền lợi cơ bản: được cấp và quản lý sổ BHXH; được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng linh hoạt; nhận lương hưu và trợ cấp đầy đủ, kịp thời; và có quyền khiếu nại, tố cáo khi quyền lợi bị xâm phạm. Song song với quyền lợi là nghĩa vụ. Quyền và nghĩa vụ người tham gia BHXH tự nguyện luôn đi đôi với nhau. Người tham gia có nghĩa vụ đóng BHXH đầy đủ, đúng hạn theo phương thức đã đăng ký; thực hiện các quy định về việc lập hồ sơ; và bảo quản sổ BHXH. Sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ là nền tảng để chính sách vận hành hiệu quả, đảm bảo sự bền vững của quỹ BHXH.

II. Phân tích khó khăn trong thực thi pháp luật BHXH tại Sơn La

Việc triển khai chính sách BHXH tự nguyện tại Sơn La đối mặt với nhiều rào cản cố hữu, xuất phát từ cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Mặc dù số lượng người tham gia có xu hướng tăng qua các năm, nhưng vẫn còn rất thấp so với tiềm năng to lớn của tỉnh. Khó khăn, vướng mắc trong thực thi không chỉ đến từ các quy định pháp luật còn bất cập mà còn bắt nguồn sâu xa từ bối cảnh kinh tế - xã hội đặc thù của một tỉnh miền núi. Thu nhập của người dân, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, còn thấp và không ổn định, khiến việc dành một khoản tiền để tiết kiệm dài hạn cho tuổi già trở thành một quyết định khó khăn. Thêm vào đó, nhận thức của một bộ phận người dân về ý nghĩa và lợi ích của chính sách này còn hạn chế. Họ chưa thực sự coi BHXH là một nhu cầu cấp thiết. Những thách thức này đòi hỏi một sự phân tích toàn diện để tìm ra nguyên nhân gốc rễ, từ đó xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả BHXH tự nguyện một cách phù hợp và bền vững. Việc hiểu rõ những rào cản này là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình cải thiện.

2.1. Tác động từ điều kiện kinh tế xã hội tỉnh Sơn La

Các điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất đến việc thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện. Sơn La là một tỉnh miền núi với 86,2% dân số sống ở nông thôn, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, thu nhập phụ thuộc nhiều vào mùa vụ và thị trường. Tốc độ tăng trưởng kinh tế dù ở mức khá nhưng chưa đồng đều, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, đặc biệt ở các huyện như Sộp Cộp, Vân Hồ, Bắc Yên. Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 chỉ đạt 38 triệu đồng [40], thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung cả nước. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người dân để tham gia BHXH. Lao động trong khu vực phi chính thức chiếm đa số, nhưng thu nhập của họ thường bấp bênh, không ổn định. Chính vì vậy, việc cam kết đóng phí đều đặn hàng tháng hoặc hàng quý là một thách thức lớn. Địa hình hiểm trở, chia cắt cũng gây khó khăn cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và tiếp cận người dân.

2.2. Hạn chế trong nhận thức của người dân về chính sách BHXH

Một trong những rào cản lớn nhất là nhận thức của người dân về BHXH còn nhiều hạn chế. Theo luận văn, người lao động thường chưa xem BHXH là một nhu cầu cấp thiết trong cuộc sống. Tâm lý chung vẫn ưu tiên cho các chi tiêu trước mắt hơn là tích lũy, dự phòng cho tương lai xa. Nhiều người còn quan niệm sai lầm, cho rằng BHXH tự nguyện chỉ dành cho người có thu nhập cao, hoặc chưa tin tưởng vào tính bền vững và lợi ích lâu dài của chính sách. Điều kiện về thời gian đóng tối thiểu 20 năm để hưởng lương hưu cũng được xem là quá dài, làm giảm sức hấp dẫn của chính sách, đặc biệt với những người đã lớn tuổi. Sự thiếu thông tin hoặc thông tin chưa được truyền tải một cách đơn giản, dễ hiểu khiến người dân chưa thấy rõ được lợi ích vượt trội của việc có lương hưu ổn định khi về già so với các hình thức tiết kiệm khác. Đây là một nút thắt quan trọng cần được tháo gỡ.

III. Phương pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Để chính sách BHXH tự nguyện thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả tại Sơn La, việc cải cách từ gốc rễ là yêu cầu cấp thiết. Trọng tâm của quá trình này là hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội theo hướng linh hoạt, hấp dẫn và phù hợp hơn với thực tiễn. Các quy định hiện hành, dù đã có nhiều tiến bộ, vẫn còn một số điểm cứng nhắc, chưa thực sự tạo điều kiện tối đa cho người lao động, đặc biệt là nhóm có thu nhập thấp và không ổn định. Việc sửa đổi luật không chỉ là điều chỉnh các con số về mức đóng hay thời gian đóng, mà còn là sự thay đổi trong tư duy thiết kế chính sách, đặt người tham gia vào vị trí trung tâm. Cần có những kiến nghị sửa đổi, bổ sung luật BHXH một cách khoa học, dựa trên các bằng chứng thực tiễn từ các địa phương như Sơn La. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hành lang pháp lý vừa đảm bảo tính bền vững của quỹ, vừa tăng cường khả năng tiếp cận và mở rộng diện bao phủ của mạng lưới an sinh xã hội cho mọi người dân.

3.1. Đề xuất mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện

Một trong những kiến nghị quan trọng là cần xem xét nới lỏng quy định về đối tượng tham gia. Hiện tại, luật quy định người đang tham gia BHXH bắt buộc thì không được tham gia BHXH tự nguyện. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người lao động có nhu cầu gia tăng thêm quyền lợi hưu trí của mình. Việc cho phép họ tham gia đồng thời cả hai hình thức, như mô hình của một số quốc gia, có thể là một hướng đi đột phá. Điều này không chỉ giúp người lao động có mức lương hưu cao hơn khi về già mà còn tăng thêm nguồn thu cho quỹ BHXH. Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện cũng cần tính đến các nhóm đặc thù khác, tạo ra các gói tham gia linh hoạt để thu hút họ vào hệ thống an sinh xã hội.

3.2. Điều chỉnh linh hoạt về chế độ và mức đóng BHXH

Sự linh hoạt là chìa khóa để thu hút người lao động có thu nhập không đều. Pháp luật cần có những quy định mềm dẻo hơn về phương thức đóng, cho phép người tham gia đóng theo quý, theo 6 tháng, theo năm, thậm chí theo mùa vụ đối với nông dân. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu giảm dần thời gian đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm, tiến tới 10 năm theo thông lệ quốc tế. Việc này sẽ làm tăng tính hấp dẫn của chính sách một cách đáng kể. Ngoài hai chế độ hưu trí và tử tuất, có thể xem xét bổ sung các gói quyền lợi tự chọn khác như trợ cấp thai sản, ốm đau ở mức độ cơ bản. Những điều chỉnh này sẽ giúp chính sách BHXH tự nguyện trở nên gần gũi và thiết thực hơn với nhu cầu đa dạng của người dân.

IV. Bí quyết nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BHXH tại Sơn La

Bên cạnh việc hoàn thiện khung pháp lý, các giải pháp trong tổ chức thực hiện đóng vai trò quyết định đến sự thành công của chính sách BHXH tự nguyện tại Sơn La. Hiệu quả thực thi phụ thuộc vào sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều yếu tố, từ công tác truyền thông, năng lực của đội ngũ cán bộ, đến sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Đây chính là các giải pháp nâng cao hiệu quả BHXH tự nguyện cần được ưu tiên triển khai. Kinh nghiệm từ thực tiễn cho thấy, nơi nào có sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của cấp ủy, chính quyền, sự năng động, sáng tạo của cơ quan BHXH thì nơi đó công tác phát triển đối tượng tham gia đạt kết quả tốt. Do đó, cần xây dựng một chiến lược thực thi toàn diện, không chỉ tập trung vào việc hoàn thành chỉ tiêu mà còn hướng đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ, củng cố niềm tin của người dân vào chính sách an sinh xã hội tỉnh Sơn La.

4.1. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải được đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung và hình thức. Thay vì các phương pháp truyền thống, cần đa dạng hóa các kênh tiếp cận, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Cần tổ chức các buổi đối thoại trực tiếp tại thôn, bản; sử dụng các phương tiện truyền thông địa phương, mạng xã hội; lồng ghép nội dung tuyên truyền vào các buổi sinh hoạt cộng đồng. Nội dung tuyên truyền cần được “mềm hóa”, trình bày đơn giản, dễ hiểu, tập trung vào lợi ích thiết thực, so sánh cụ thể giữa việc tham gia BHXH và các hình thức tiết kiệm khác. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng như già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo để tạo sự lan tỏa và tin cậy.

4.2. Phát huy vai trò của chính quyền và cơ quan BHXH

Vai trò của chính quyền địa phương là không thể thiếu. Cần đưa chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện vào nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, coi đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng. Về phía cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La, cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin để đơn giản hóa quy trình đăng ký, đóng và hưởng chế độ. Nâng cao năng lực, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, xây dựng hình ảnh thân thiện, tận tâm. Đồng thời, phát triển mạng lưới đại lý thu cap-xa-cap-thon, đào tạo và trang bị cho họ những kỹ năng tư vấn, vận động chuyên nghiệp để họ thực sự trở thành những “cánh tay nối dài” hiệu quả của ngành BHXH đến từng người dân.

V. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách BHXH tự nguyện ở Sơn La

Mặc dù đối mặt với nhiều thách thức, công tác thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện trên địa bàn tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2016-2020 đã ghi nhận những kết quả tích cực ban đầu. Số liệu từ luận văn cho thấy một bức tranh khả quan với sự gia tăng liên tục về số người tham gia qua các năm. Điều này phản ánh nỗ lực không ngừng của cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La và sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp. Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt là việc hỗ trợ một phần mức đóng cho người tham gia, đã phát huy tác dụng, khuyến khích người dân tiếp cận chính sách. Việc phân tích các số liệu cụ thể không chỉ giúp đánh giá thành tựu đã đạt được mà còn chỉ ra những điểm nghẽn cần khắc phục, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để điều chỉnh chính sách và phương pháp triển khai trong giai đoạn tiếp theo, hướng tới mục tiêu an sinh xã hội bền vững cho người dân toàn tỉnh.

5.1. Phân tích số liệu tham gia BHXH tự nguyện giai đoạn 2016 2020

Dữ liệu từ Bảng 2.1 trong luận văn cho thấy số người tham gia BHXHTN tại Sơn La đã có sự tăng trưởng đáng kể. Cụ thể, số người tham gia đã tăng đều qua các năm, cho thấy sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của người dân. Đặc biệt, từ khi Luật Bảo hiểm xã hội 2014 có hiệu lực và các chính sách hỗ trợ được triển khai mạnh mẽ hơn, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch hàng năm luôn đạt và vượt chỉ tiêu đề ra trong những năm cuối của giai đoạn. Năm 2016 có 2.128 người tham gia, đến năm 2020, con số này đã tăng lên nhiều lần, thể hiện sự thành công bước đầu của chính sách an sinh xã hội tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, khi so sánh với tổng số người trong độ tuổi lao động thuộc diện có thể tham gia, tỷ lệ này vẫn còn khiêm tốn, cho thấy dư địa để phát triển chính sách còn rất lớn.

5.2. Các mô hình thực hiện BHXH thành công cần được nhân rộng

Sự tăng trưởng về số lượng người tham gia là kết quả của việc áp dụng các phương pháp tiếp cận hiệu quả. Có thể nhận diện một số mô hình thực hiện BHXH thành công cần được nghiên cứu và nhân rộng. Đó là mô hình phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan BHXH, hội nông dân, hội phụ nữ và các đoàn thể khác để tổ chức các hội nghị tuyên truyền, tư vấn trực tiếp. Mô hình “đi từng ngõ, gõ từng nhà” của các đại lý thu, kiên trì giải thích, vận động người dân. Bên cạnh đó, việc tổ chức các lễ trao sổ BHXH, vinh danh các cá nhân, tập thể làm tốt công tác vận động cũng tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực trong cộng đồng. Những cách làm sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với văn hóa và điều kiện địa phương chính là chìa khóa để chinh phục những mục tiêu cao hơn trong tương lai.

16/07/2025
Thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh sơn la luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CUA PHAP LUAT VE BAO HIEM XA HOI TU NGUYEN VA CAC QUY DINH PHAP LUAT VIET NAM HIEN HANH VE THUC HIEN BAO HIEM XA HOI TU NGUYEN 1. Một số vẫn đề lý luận của pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện 1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện Tại Việt Nam, pháp luật BHXH được biết đến từ rất sớm, tuy nhiên các quy định pháp luật về BHXHTN tại Việt Nam mới được đề cập tại Luật BHXH năm 2006 và được sửa đổi, hoàn thiện hơn trong Luật BHXH năm 2014. Theo đó, pháp luật BHXHTN điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động BHXHTN và phải bao quát được hết các khâu từ quy định về thủ tục thực hiện BHXHTN, mức đóng và phương thức đóng BHXHÍTN và các vấn đề khác có liên quan.

Để đưa ra khái niệm thuật ngữ “pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện ” cần phải hiểu thế nào là “pháp /uậ£”. Theo quan điểm của trường phái pháp luật thực định, pháp luật là những quy tắc do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập trật tự xã hội. Đó là những quy phạm cụ thể, hiện hữu, xác định phạm vi không gian xác định [21]. Ở Việt Nam hiện nay, trong giáo trình của các cơ sở đảo tạo luật học cũng như trong sách báo pháp lý tồn tại nhiều định nghĩa về pháp luật, tuy nhiên có thê nói, các định nghĩa đó cơ bản chỉ khác nhau về câu chữ.

Với tư cách là một loại quy tắc ứng xử của con người, một loại chuẩn mực xã hội, pháp luật có những điểm khác biệt cơ bản so với các loại chuẩn mực xã hội khác như đạo đức, phong tục tập quán. Vì vậy có thê hiểu: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của Nhà nước ” [34]. Về khái nệm “Bảo hiểm xã hội tự nguyện ” được hiểu như sau: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức và quản lý, trong đó người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ BHXH”. Xét về bản chất, pháp luật BHXHTN là một bộ phận cấu thành pháp luật BHXH và là một trong những nội dung thuộc chính sách ASXH, vì vậy, nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia.

Xuất phát từ những nhu cầu của cuộc sống là đảm bảo thu nhập khi NLĐ hết khả năng lao động hoặc chết mà BHXHTN xuất hiện bên cạnh BHXHBB như nhu cầu khách quan. Ở mỗi quốc gia khác nhau, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển dân trí khác nhau mà chính sách pháp luật về BHXHTN cũng có những điểm riêng biệt, nhưng về bản chất đều được xây dựng trên cơ sở hoàn toản tự nguyện của người tham gia, băng cách đóng góp phần thu nhập của minh dé được hưởng chế độ BHXH nhằm giảm bớt những khó khăn khi NLD hét kha năng lao động khiến bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập. Như vậy, từ các định nghĩa liên quan và nội dung về bản chất của pháp luật BHXHTN có thê đưa ra khái niệm về pháp luật BHXHÍTN như sau: “Pháp luật BHXHTN là hệ thống những quy định do Nhà nước ban hành, quy định về đối tượng tham gia BHXHTN, mức đóng và phương thức đóng, các chế độ BHXHTN, thủ tục hưởng quyên lợi, quản lý của Nhà nước và các vấn đề khác về BHXHTN. Đặc điểm của pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện Thứ nhất, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật BHXHTN rất đa dạng Hiện nay, hầu hết những NLĐ tham gia quan hệ lao động trong các cơ quan, tô chức, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang,.

đều thuộc đối tượng áp dụng BHXHBB. Đối tượng áp dụng BHXHTN là không hạn chế, miễn là họ trong độ tuổi lao động theo quy định và không thuộc diện áp dung BHXHBB. Người tham gia BHXHTTN thường là những người lao động tự do, tự tạo việc làm, những người nông dân,. cuộc sống của họ phụ thuộc nhiều vào yếu tố như diễn biến của thị trường, thiên tai, mùa màng,.

họ hầu như không có quan hệ lao động với người sử dụng lao động hoặc nếu tham gia quan hệ lao động thì thời gian lao động rất ngắn và không ổn định. Đây là điểm khác so với BHXHBB, giúp các đối tượng không thuộc diện tham gia BHXHBB có thể được hưởng một số chế độ BHXH, bởi BHXHBB chủ yếu áp dụng đối với những đối tượng có tham gia quan hệ lao động. Dù không tham gia quan hệ lao động nhưng theo quy luật tự nhiên, họ cũng sẽ già và chết. Khi về giả, không còn khả năng lao động, thu nhập của họ sẽ bi giảm sút hoặc không còn, vì thế họ sẽ khó có thể bảo đảm đời sống, trong khi các nhu cầu thiết yếu như: ăn uống, sinh hoạt, khám chữa bệnh,.

nhiều khi tăng lên. Bởi vậy, khi tham gia BHXHTN, họ sẽ có khoản trợ cấp đáp ứng nhu cầu của đời sống. Khi chết, BHXHTN sẽ trợ cấp tiền mai táng và trợ cấp một phần cho thân nhân của họ, nhằm giảm bớt gánh nặng về kinh tế cho gia đình họ. Bên cạnh đó, khi còn có sức khoẻ và còn khả năng lao động, NLĐ cần phải có trách nhiệm đối với bản thân mình.

Đề được hưởng chế độ BHXHTN, NLĐ phải có nghĩa vụ đóng phí vào quỹ BHXH, và đề có tiền đóng phí vào quỹ, NLĐ cần phải có nguồn thu nhập ổn định. Mức thu nhập này được quy định khác nhau ở các quốc gia tại Việt Nam, pháp luật quy định NLĐ phải có thu nhập hàng tháng ít nhất bằng mức chuẩn nghèo khu vực nông thôn và tối đa băng 20 lần mức lương cơ sở. Thứ hai, pháp luật BHXHTN có quy phạm quy định về mức đóng và phương thức đóng quỹ BHXH khả đặc thù Đây là điểm đặc biệt thể hiện bản chất tự nguyện của pháp luật về BHXHIN, tuỳ vào hoàn cảnh và nguyện vọng của NLĐ mà lựa chọn mức 10 đóng phủ hợp. Trên cơ sở thu nhập ồn định mà pháp luật đã quy định, NLĐ được tự lựa chọn mức tiền phù hợp với thu nhập của mình để nộp vào quỹ BHXH.

Mức đóng này có thê được thay đổi nêu mức thu nhập của NLĐ thay đôi và được NLĐ lựa chọn. Ngoài ra, NLĐ được lựa chọn phương thức đóng phù hợp với quy định của pháp luật chứ không mang tính ấn định như BHXHBB. Theo đó, NLĐ tuỳ vào thời điểm ôn định nguồn thu nhập của mình mà lựa chọn thời điểm đóng phí. Có thể theo phương thức hàng tháng, nhiều tháng hoặc nhiều năm đóng phí một lần, thậm chí đối với những NLD làm nông nghiệp có thể đóng phí theo mùa vụ cho phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh và thu nhập của họ.

Việc linh hoạt trong lựa chọn mức đóng và phương thức đóng cho NLĐ tham gia BHXHTN chinh la nham tao diéu kién cho NLD duoc tham gia BHXH va được hưởng quyền lợi từ một số chế độ BHXH. Thứ ba, pháp luật BIXHTN quy định NLĐ được Nhà Nuớc hồ trợ đóng BHXH Mức độ hỗ trợ của Nhà nước cho quỹ BHXHTN thường nhiều hơn so với BHXHBB, vì trong quỹ BHXHÍTN không có sự đóng góp thêm từ người sử dụng lao động, nên dé đảm bảo nguồn tài chính thực hiện cần có sự bảo trợ của Nhà nước. Việc hỗ trợ này nhằm mục đích bảo đảm cho nguồn đóng BHXHTN được tăng lên, theo đó bảo đảm được các chế độ cho NLĐ tham gia. Mức độ bảo hộ của Nhà nước tuỳ thuộc vào quy định của pháp luật từng thời kỳ, đồng thời tuỳ thuộc rất lớn vào mức đóng của NLĐ, số lượng người tham gia, tốc độ phát triển và tăng trưởng của nên kinh tế.

Đặc điểm này vừa thể hiện điểm riêng của pháp luật BHXHTN, đồng thời vừa thể hiện chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển BHXHTN. Vai trò của pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXHTN ra đời và phát triển đã ngày càng khăng định được vai trò của mình trên nhiêu phương diện khác nhau trong thực tê cuộc sông cũng như 11 trong phát triển kinh tế. Do đó, pháp luật điều chỉnh về BHXHTN sẽ là nền tảng pháp lý quan trọng đảm bảo quyền lợi đối với NLĐ nói riêng và đối với xã hội nói chung: * Tý nhất đối với NLĐ: Pháp luật BHXHTN là pháp lý ràng buộc góp phần ôn định cuộc sống của những NLĐÐ tự do, tự tạo việc làm. Người tham gia BHXHTN sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động hoặc chết, nhờ đó mà người tham gia và gia đình họ nhanh chóng khắc phục những tổn thất vật chất, sớm ồn định cuộc sống để tiếp tục quá trình lao động.

Do đối tượng tham gia BHXHTN là những NLĐ tự do, hầu như không có quan hệ lao động với NSDLĐ và có thu nhập thường không cao như: nông dân, người kinh doanh, buôn bán tự do, nhỏ lẻ,. nên việc tham gia BHXHTN giúp NLĐÐ có ý thức trong việc tiết kiệm đầu tư những khoản nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chỉ dùng khi già yếu, mắt sức lao động, từ đó góp phần ồn định cuộc sống cho bản thân và gia đình. Nhờ sự đảm bảo thay thế kịp thời mà người tham gia BHXHTN được bảo đảm đời sống ổn định và lâu dài, từ đó góp phần đảm bảo ASXH của đất nước. * Thứ hai, đối với xã hội Pháp luật BHXHTN xây dựng cơ chế góp phần nâng cao chất lượng lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội, từ đó thúc đây sản xuất phát triển.

Với mục tiêu của BHXH là tạo điều kiện cho NLĐ ở tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề đều được hưởng bảo trợ những lúc gặp rủi ro trong cuộc sống, BHXHTN ra đời nhằm tạo điểm tựa cho NLĐ tự đo khi không còn khả năng lao động, giúp họ được hưởng trợ cấp, có lương hưu, ồn định cuộc song. Diéu nay da tao cho NLD tam ly ôn định, an tâm vào việc làm họ đang thực hiện. Từ đó, những NLĐ tự do không còn mang tâm lý bắt buộc phải tìm 12 những công việc trong các cơ quan, doanh nghiệp để an tâm khi về già, từ đó phân bổ đều nguồn lao động đến mọi ngành nghề trong xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ