Chương 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CUA PHAP LUAT VE BAO HIEM XA HOI TU NGUYEN VA CAC QUY DINH PHAP LUAT VIET NAM HIEN HANH VE THUC HIEN BAO HIEM XA HOI TU NGUYEN 1. Một số vẫn đề lý luận của pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện 1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện Tại Việt Nam, pháp luật BHXH được biết đến từ rất sớm, tuy nhiên các quy định pháp luật về BHXHTN tại Việt Nam mới được đề cập tại Luật BHXH năm 2006 và được sửa đổi, hoàn thiện hơn trong Luật BHXH năm 2014. Theo đó, pháp luật BHXHTN điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động BHXHTN và phải bao quát được hết các khâu từ quy định về thủ tục thực hiện BHXHTN, mức đóng và phương thức đóng BHXHÍTN và các vấn đề khác có liên quan.
Để đưa ra khái niệm thuật ngữ “pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện ” cần phải hiểu thế nào là “pháp /uậ£”. Theo quan điểm của trường phái pháp luật thực định, pháp luật là những quy tắc do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập trật tự xã hội. Đó là những quy phạm cụ thể, hiện hữu, xác định phạm vi không gian xác định [21]. Ở Việt Nam hiện nay, trong giáo trình của các cơ sở đảo tạo luật học cũng như trong sách báo pháp lý tồn tại nhiều định nghĩa về pháp luật, tuy nhiên có thê nói, các định nghĩa đó cơ bản chỉ khác nhau về câu chữ.
Với tư cách là một loại quy tắc ứng xử của con người, một loại chuẩn mực xã hội, pháp luật có những điểm khác biệt cơ bản so với các loại chuẩn mực xã hội khác như đạo đức, phong tục tập quán. Vì vậy có thê hiểu: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của Nhà nước ” [34]. Về khái nệm “Bảo hiểm xã hội tự nguyện ” được hiểu như sau: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức và quản lý, trong đó người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ BHXH”. Xét về bản chất, pháp luật BHXHTN là một bộ phận cấu thành pháp luật BHXH và là một trong những nội dung thuộc chính sách ASXH, vì vậy, nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia.
Xuất phát từ những nhu cầu của cuộc sống là đảm bảo thu nhập khi NLĐ hết khả năng lao động hoặc chết mà BHXHTN xuất hiện bên cạnh BHXHBB như nhu cầu khách quan. Ở mỗi quốc gia khác nhau, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển dân trí khác nhau mà chính sách pháp luật về BHXHTN cũng có những điểm riêng biệt, nhưng về bản chất đều được xây dựng trên cơ sở hoàn toản tự nguyện của người tham gia, băng cách đóng góp phần thu nhập của minh dé được hưởng chế độ BHXH nhằm giảm bớt những khó khăn khi NLD hét kha năng lao động khiến bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập. Như vậy, từ các định nghĩa liên quan và nội dung về bản chất của pháp luật BHXHTN có thê đưa ra khái niệm về pháp luật BHXHÍTN như sau: “Pháp luật BHXHTN là hệ thống những quy định do Nhà nước ban hành, quy định về đối tượng tham gia BHXHTN, mức đóng và phương thức đóng, các chế độ BHXHTN, thủ tục hưởng quyên lợi, quản lý của Nhà nước và các vấn đề khác về BHXHTN. Đặc điểm của pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện Thứ nhất, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật BHXHTN rất đa dạng Hiện nay, hầu hết những NLĐ tham gia quan hệ lao động trong các cơ quan, tô chức, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang,.
đều thuộc đối tượng áp dụng BHXHBB. Đối tượng áp dụng BHXHTN là không hạn chế, miễn là họ trong độ tuổi lao động theo quy định và không thuộc diện áp dung BHXHBB. Người tham gia BHXHTTN thường là những người lao động tự do, tự tạo việc làm, những người nông dân,. cuộc sống của họ phụ thuộc nhiều vào yếu tố như diễn biến của thị trường, thiên tai, mùa màng,.
họ hầu như không có quan hệ lao động với người sử dụng lao động hoặc nếu tham gia quan hệ lao động thì thời gian lao động rất ngắn và không ổn định. Đây là điểm khác so với BHXHBB, giúp các đối tượng không thuộc diện tham gia BHXHBB có thể được hưởng một số chế độ BHXH, bởi BHXHBB chủ yếu áp dụng đối với những đối tượng có tham gia quan hệ lao động. Dù không tham gia quan hệ lao động nhưng theo quy luật tự nhiên, họ cũng sẽ già và chết. Khi về giả, không còn khả năng lao động, thu nhập của họ sẽ bi giảm sút hoặc không còn, vì thế họ sẽ khó có thể bảo đảm đời sống, trong khi các nhu cầu thiết yếu như: ăn uống, sinh hoạt, khám chữa bệnh,.
nhiều khi tăng lên. Bởi vậy, khi tham gia BHXHTN, họ sẽ có khoản trợ cấp đáp ứng nhu cầu của đời sống. Khi chết, BHXHTN sẽ trợ cấp tiền mai táng và trợ cấp một phần cho thân nhân của họ, nhằm giảm bớt gánh nặng về kinh tế cho gia đình họ. Bên cạnh đó, khi còn có sức khoẻ và còn khả năng lao động, NLĐ cần phải có trách nhiệm đối với bản thân mình.
Đề được hưởng chế độ BHXHTN, NLĐ phải có nghĩa vụ đóng phí vào quỹ BHXH, và đề có tiền đóng phí vào quỹ, NLĐ cần phải có nguồn thu nhập ổn định. Mức thu nhập này được quy định khác nhau ở các quốc gia tại Việt Nam, pháp luật quy định NLĐ phải có thu nhập hàng tháng ít nhất bằng mức chuẩn nghèo khu vực nông thôn và tối đa băng 20 lần mức lương cơ sở. Thứ hai, pháp luật BHXHTN có quy phạm quy định về mức đóng và phương thức đóng quỹ BHXH khả đặc thù Đây là điểm đặc biệt thể hiện bản chất tự nguyện của pháp luật về BHXHIN, tuỳ vào hoàn cảnh và nguyện vọng của NLĐ mà lựa chọn mức 10 đóng phủ hợp. Trên cơ sở thu nhập ồn định mà pháp luật đã quy định, NLĐ được tự lựa chọn mức tiền phù hợp với thu nhập của mình để nộp vào quỹ BHXH.
Mức đóng này có thê được thay đổi nêu mức thu nhập của NLĐ thay đôi và được NLĐ lựa chọn. Ngoài ra, NLĐ được lựa chọn phương thức đóng phù hợp với quy định của pháp luật chứ không mang tính ấn định như BHXHBB. Theo đó, NLĐ tuỳ vào thời điểm ôn định nguồn thu nhập của mình mà lựa chọn thời điểm đóng phí. Có thể theo phương thức hàng tháng, nhiều tháng hoặc nhiều năm đóng phí một lần, thậm chí đối với những NLD làm nông nghiệp có thể đóng phí theo mùa vụ cho phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh và thu nhập của họ.
Việc linh hoạt trong lựa chọn mức đóng và phương thức đóng cho NLĐ tham gia BHXHTN chinh la nham tao diéu kién cho NLD duoc tham gia BHXH va được hưởng quyền lợi từ một số chế độ BHXH. Thứ ba, pháp luật BIXHTN quy định NLĐ được Nhà Nuớc hồ trợ đóng BHXH Mức độ hỗ trợ của Nhà nước cho quỹ BHXHTN thường nhiều hơn so với BHXHBB, vì trong quỹ BHXHÍTN không có sự đóng góp thêm từ người sử dụng lao động, nên dé đảm bảo nguồn tài chính thực hiện cần có sự bảo trợ của Nhà nước. Việc hỗ trợ này nhằm mục đích bảo đảm cho nguồn đóng BHXHTN được tăng lên, theo đó bảo đảm được các chế độ cho NLĐ tham gia. Mức độ bảo hộ của Nhà nước tuỳ thuộc vào quy định của pháp luật từng thời kỳ, đồng thời tuỳ thuộc rất lớn vào mức đóng của NLĐ, số lượng người tham gia, tốc độ phát triển và tăng trưởng của nên kinh tế.
Đặc điểm này vừa thể hiện điểm riêng của pháp luật BHXHTN, đồng thời vừa thể hiện chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển BHXHTN. Vai trò của pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXHTN ra đời và phát triển đã ngày càng khăng định được vai trò của mình trên nhiêu phương diện khác nhau trong thực tê cuộc sông cũng như 11 trong phát triển kinh tế. Do đó, pháp luật điều chỉnh về BHXHTN sẽ là nền tảng pháp lý quan trọng đảm bảo quyền lợi đối với NLĐ nói riêng và đối với xã hội nói chung: * Tý nhất đối với NLĐ: Pháp luật BHXHTN là pháp lý ràng buộc góp phần ôn định cuộc sống của những NLĐÐ tự do, tự tạo việc làm. Người tham gia BHXHTN sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động hoặc chết, nhờ đó mà người tham gia và gia đình họ nhanh chóng khắc phục những tổn thất vật chất, sớm ồn định cuộc sống để tiếp tục quá trình lao động.
Do đối tượng tham gia BHXHTN là những NLĐ tự do, hầu như không có quan hệ lao động với NSDLĐ và có thu nhập thường không cao như: nông dân, người kinh doanh, buôn bán tự do, nhỏ lẻ,. nên việc tham gia BHXHTN giúp NLĐÐ có ý thức trong việc tiết kiệm đầu tư những khoản nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chỉ dùng khi già yếu, mắt sức lao động, từ đó góp phần ồn định cuộc sống cho bản thân và gia đình. Nhờ sự đảm bảo thay thế kịp thời mà người tham gia BHXHTN được bảo đảm đời sống ổn định và lâu dài, từ đó góp phần đảm bảo ASXH của đất nước. * Thứ hai, đối với xã hội Pháp luật BHXHTN xây dựng cơ chế góp phần nâng cao chất lượng lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội, từ đó thúc đây sản xuất phát triển.
Với mục tiêu của BHXH là tạo điều kiện cho NLĐ ở tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề đều được hưởng bảo trợ những lúc gặp rủi ro trong cuộc sống, BHXHTN ra đời nhằm tạo điểm tựa cho NLĐ tự đo khi không còn khả năng lao động, giúp họ được hưởng trợ cấp, có lương hưu, ồn định cuộc song. Diéu nay da tao cho NLD tam ly ôn định, an tâm vào việc làm họ đang thực hiện. Từ đó, những NLĐ tự do không còn mang tâm lý bắt buộc phải tìm 12 những công việc trong các cơ quan, doanh nghiệp để an tâm khi về già, từ đó phân bổ đều nguồn lao động đến mọi ngành nghề trong xã hội.