Thực Hiện Hợp Đồng Khi Hoàn Cảnh Thay Đổi Cơ Bản: Nghiên Cứu và Kiến Nghị

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực hiện hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2020

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Thực Hiện Hợp Đồng Khi Hoàn Cảnh Thay Đổi Cơ Bản

Trong bối cảnh kinh tế và xã hội luôn biến động, việc thực hiện hợp đồng không phải lúc nào cũng diễn ra suôn sẻ như dự kiến ban đầu. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản có thể phát sinh những yếu tố bất ngờ, tác động trực tiếp đến khả năng hoàn thành nghĩa vụ của các bên. Điều này đòi hỏi một cơ chế pháp lý linh hoạt để điều chỉnh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Theo Nguyễn Kim Ngân trong luận văn Thạc sĩ Luật học, "hợp đồng suy cho cùng là một công cụ để phản ánh ý chí của các bên trong việc ứng xử đối với môi trường kinh doanh luôn đổi thay". Bài viết này sẽ đi sâu vào phân tích các khía cạnh pháp lý và thực tiễn liên quan đến vấn đề này.

1.1. Khái Niệm và Ý Nghĩa của Hoàn Cảnh Thay Đổi Cơ Bản

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản là những sự kiện xảy ra sau khi hợp đồng được ký kết, mà các bên không thể lường trước được và làm thay đổi đáng kể nghĩa vụ hợp đồng. Nó có thể bao gồm các yếu tố như biến động kinh tế vĩ mô, thay đổi chính sách pháp luật, hoặc các sự kiện bất khả kháng. Việc thừa nhận và giải quyết vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ tính khả thi của hợp đồng và duy trì sự ổn định trong quan hệ thương mại.

1.2. Phân Biệt Hoàn Cảnh Thay Đổi Cơ Bản và Bất Khả Kháng

Mặc dù có sự tương đồng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản khác với sự kiện bất khả kháng. Bất khả kháng thường dẫn đến việc không thể thực hiện nghĩa vụ, trong khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản chỉ làm cho việc thực hiện trở nên khó khăn và tốn kém hơn. Việc phân biệt rõ ràng hai khái niệm này là rất quan trọng để áp dụng đúng các biện pháp pháp lý phù hợp, như thương lượng lại hợp đồng hoặc yêu cầu tòa án/trọng tài điều chỉnh.

II. Thách Thức Rủi Ro và Tranh Chấp Khi Hoàn Cảnh Thay Đổi

Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản xảy ra, các bên trong hợp đồng phải đối mặt với nhiều rủi ro hợp đồng. Một bên có thể gặp khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ, trong khi bên kia có thể phải chịu thiệt hại do sự chậm trễ hoặc không hoàn thành hợp đồng. Điều này dễ dẫn đến các tranh chấp phức tạp, gây tốn kém thời gian và chi phí cho cả hai bên. Việc thiếu một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả có thể làm suy yếu niềm tin vào hệ thống pháp luật và ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh.

2.1. Đánh Giá Rủi Ro và Dự Phòng Trong Hợp Đồng

Để giảm thiểu rủi ro, các bên nên tiến hành đánh giá rủi ro kỹ lưỡng trước khi ký kết hợp đồng. Điều này bao gồm việc xem xét các yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng thực hiện hợp đồng, như biến động thị trường, thay đổi chính sách, và các sự kiện bất ngờ. Các bên cũng nên thỏa thuận rõ ràng về điều khoản loại trừ trách nhiệm và cơ chế giải quyết tranh chấp trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản xảy ra.

2.2. Vai Trò của Nguyên Tắc Thiện Chí trong Thực Hiện Hợp Đồng

Nguyên tắc thiện chí đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Các bên có nghĩa vụ hợp tác và thương lượng một cách trung thực và công bằng để tìm ra giải pháp phù hợp. Việc vi phạm nguyên tắc thiện chí có thể bị coi là vi phạm hợp đồng và dẫn đến các hậu quả pháp lý bất lợi.

2.3. Tính Công Bằng và Sự Kiện Khách Quan Trong Đánh Giá

Khi xem xét một yêu cầu điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi cơ bản, tòa án hoặc trọng tài cần đánh giá một cách khách quan và công bằng, xem xét đến tất cả các yếu tố liên quan và đảm bảo rằng việc điều chỉnh là hợp lý và không gây thiệt hại quá mức cho bất kỳ bên nào. Điều này đặc biệt quan trọng khi các sự kiện mang tính chất khách quan như thay đổi pháp luật hợp đồng hoặc biến động lớn về kinh tế.

III. Giải Pháp Thương Lượng Lại Hợp Đồng và Điều Chỉnh Pháp Lý

Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản xảy ra, giải pháp ưu tiên là các bên thương lượng lại hợp đồng. Mục tiêu là điều chỉnh các điều khoản hiện có hoặc bổ sung các điều khoản mới để phản ánh tình hình thực tế và đảm bảo lợi ích hợp pháp của cả hai bên. Nếu thương lượng không thành công, các bên có thể yêu cầu tòa án hoặc trọng tài can thiệp và đưa ra quyết định điều chỉnh hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng.

3.1. Quy Trình và Thủ Tục Thương Lượng Lại Hợp Đồng

Quy trình thương lượng lại hợp đồng cần được tiến hành một cách minh bạch và có thiện chí. Các bên nên chia sẻ thông tin một cách đầy đủ và trung thực, đồng thời xem xét các phương án khác nhau để tìm ra giải pháp tối ưu. Nếu cần thiết, các bên có thể tìm kiếm sự tư vấn của các chuyên gia pháp lý hoặc tài chính để hỗ trợ quá trình thương lượng.

3.2. Quyền Hạn của Tòa Án và Trọng Tài Trong Điều Chỉnh Hợp Đồng

Tòa án và trọng tài có quyền hạn điều chỉnh hợp đồng khi các bên không thể đạt được thỏa thuận và việc tiếp tục thực hiện hợp đồng theo các điều khoản ban đầu sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Tuy nhiên, quyền hạn này cần được sử dụng một cách thận trọng và chỉ khi có đủ căn cứ pháp lý. Tòa án/trọng tài có thể xem xét sửa đổi nghĩa vụ, điều chỉnh giá cả hoặc thậm chí chấm dứt hợp đồng tùy thuộc vào tình hình cụ thể.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Áp Dụng Điều Khoản Hoàn Cảnh Thay Đổi

Trong thực tế, việc áp dụng điều khoản về hoàn cảnh thay đổi cơ bản còn gặp nhiều khó khăn do sự thiếu rõ ràng trong các quy định pháp luật và sự khác biệt trong cách giải thích của tòa án và trọng tài. Để đảm bảo tính hiệu quả của điều khoản này, cần có sự hướng dẫn chi tiết hơn từ các cơ quan có thẩm quyền và sự thống nhất trong cách áp dụng của các cơ quan xét xử.

4.1. Ví Dụ Về Áp Dụng Điều Khoản Trong Các Ngành Nghề Khác Nhau

Việc áp dụng điều khoản về hoàn cảnh thay đổi cơ bản có thể khác nhau tùy thuộc vào ngành nghề và loại hợp đồng. Ví dụ, trong ngành xây dựng, biến động giá vật liệu có thể được coi là một yếu tố thay đổi cơ bản. Trong ngành tài chính, thay đổi lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến khả năng thực hiện hợp đồng. Cần xem xét các ví dụ về hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong các ngành nghề cụ thể để áp dụng điều khoản một cách chính xác.

4.2. Phân Tích Các Quyết Định Tòa Án Liên Quan Đến Hoàn Cảnh Thay Đổi

Việc phân tích các quyết định của tòa án về hoàn cảnh thay đổi cơ bản giúp làm rõ hơn về cách các thẩm phán giải thích và áp dụng pháp luật. Điều này cũng giúp các bên hiểu rõ hơn về các yếu tố mà tòa án xem xét khi đưa ra quyết định và cách xây dựng các điều khoản hợp đồng để bảo vệ quyền lợi của mình. Các quyết định liên quan đến các sự kiện chủ quansự kiện khách quan cần được xem xét.

V. Kiến Nghị Hoàn Thiện Pháp Luật Về Thực Hiện Hợp Đồng

Để nâng cao hiệu quả của pháp luật về thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản, cần có những sửa đổi và bổ sung để làm rõ các khái niệm, quy trình và thủ tục liên quan. Cần đảm bảo sự hài hòa giữa các quy định pháp luật khác nhau và tăng cường đào tạo cho các thẩm phán, trọng tài viên về vấn đề này.

5.1. Đề Xuất Sửa Đổi Các Quy Định Pháp Luật Hiện Hành

Các đề xuất sửa đổi pháp luật cần tập trung vào việc làm rõ các điều kiện để công nhận hoàn cảnh thay đổi cơ bản, quy định chi tiết về quy trình thương lượng lại hợp đồng và xác định rõ quyền hạn của tòa án và trọng tài. Việc xem xét các cơ sở pháp lý một cách thấu đáo sẽ giúp việc áp dụng luật được chính xác hơn.

5.2. Tăng Cường Đào Tạo và Nâng Cao Nhận Thức Pháp Luật

Cần tăng cường đào tạo cho các thẩm phán, trọng tài viên và luật sư về vấn đề thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và người dân về các quy định pháp luật liên quan để họ có thể chủ động phòng ngừa và giải quyết các tranh chấp một cách hiệu quả. Việc giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của kinh tế.

5.3. Đảm bảo sự đồng bộ và thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Rà soát và đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất giữa BLDS và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác liên quan đến hợp đồng và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Điều này giúp tránh mâu thuẫn và tạo ra sự rõ ràng, minh bạch trong quá trình áp dụng pháp luật.

VI. Kết Luận Hướng Đến Sự Cân Bằng Trong Quan Hệ Hợp Đồng

Việc thừa nhận và giải quyết vấn đề thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hợp đồng. Điều này giúp đảm bảo sự công bằngtính khả thi của hợp đồng, đồng thời khuyến khích các bên hợp tác và thương lượng một cách thiện chí để vượt qua những khó khăn và thách thức. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực tiễn và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Cân Bằng Lợi Ích Các Bên

Pháp luật cần tạo ra sự cân bằng giữa việc bảo vệ quyền lợi của bên gặp khó khăn và việc tôn trọng cam kết hợp đồng. Việc điều chỉnh hợp đồng cần được thực hiện một cách thận trọng và chỉ khi có đủ căn cứ để tránh gây ra sự bất ổn và làm suy yếu niềm tin vào hệ thống pháp luật.

6.2. Nghiên Cứu Thêm Về Ảnh Hưởng Của Các Yếu Tố Vĩ Mô Đến Hợp Đồng

Cần có thêm các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô, như biến đổi khí hậu, đại dịch, và khủng hoảng kinh tế, đến khả năng thực hiện hợp đồng. Điều này giúp các nhà làm luật và các bên tham gia hợp đồng có cái nhìn toàn diện hơn về các rủi ro tiềm ẩn và xây dựng các điều khoản hợp đồng phù hợp.

04/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.doi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.doi CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN 1. Hợp đồng, đặc điểm của hợp đồng 1.

Định nghĩa hợp đồng Cùng với sự phát triển của xã hội, con ngƣời càng có nhiều hơn nhu cầu về sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, bản thân họ không thể tự mình thực hiện, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu ấy. Do vậy, việc hợp tác, hỗ trợ, trao đổi lẫn nhau về tài sản, hàng hóa hay thực hiện công việc là yêu cầu tất yếu để mỗi cá nhân, tổ chức đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển của chính mình. Để thực hiện điều này, các bên thiết lập với nhau các cam kết, khế ƣớc, thỏa thuận, hay nói cách khác là các hợp đồng.

“Hợp đồng cho phép con ngƣời gánh chịu những trách nhiệm và sự tận tụy trên cơ sở có đi có lại, đƣa ra những lời hứa mà ngƣời khác có thể tin tƣởng, loại bỏ một số thứ không chắc chắn, và tạo lập những ƣớc vọng hợp lý cho các công việc trong tƣơng lai” [2]. Có nhiều thuật ngữ khác nhau đƣợc dùng để chỉ về hợp đồng nhƣ cam kết, khế ƣớc, giao kèo hay luật riêng của các bên … Là một trong những nội dung nền tảng của luật dân sự, đƣợc hình thành từ rất sớm, định nghĩa về hợp đồng cũng dần đƣợc hoàn thiện. Theo BLDS Bắc kỳ năm 1931, “Khế ƣớc là một hiệp ƣớc của một ngƣời hay nhiều ngƣời cam đoan với một hay nhiều ngƣời khác để tặng cho để làm hay không làm cái gì” (Điều 644). BLDS Trung kỳ năm 1936 định nghĩa “Khế ƣớc là hiệp ƣớc của một hay nhiều ngƣời cam đoan với một hay nhiều ngƣời khác để chuyển giao, làm hay không làm cái gì” (Điều 680).

Phần nào thừa kế, phát triển định nghĩa trên, Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 quy định “Hợp đồng dây sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mƣợn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm 8 (LUAN.doi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.doi đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”. Nhƣ vậy, so với BLDS Bắc kỳ và BLDS Trung kỳ nêu trên thì cách định nghĩa của Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 khái quát, đầy đủ hơn về mặt chủ thể tham gia hợp đồng, đồng thời cũng liệt kê cụ thể hơn các giao dịch, thỏa thuận giữa các bên khi tham gia giao kết. Tuy nhiên, cách liệt kê của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 nhƣ trên sẽ dẫn đến trƣờng hợp không thể “quét” đƣợc hết các giao dịch, tình huống phát sinh trên thực tế, từ đó có thể gây khó khăn cho các chủ thể áp dụng, thực hiện pháp luật. Khắc phục nhƣợc điểm này, BLDS 2005, tiếp đến là BLDS 2015 đã định nghĩa lại một cách đầy đủ hơn, nhƣng ngắn gọn hơn, tập trung vào các đặc điểm, bản chất pháp lý của hợp đồng, cụ thể: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 388, BLDS 2005), hay “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (BLDS 2015).

Nhƣ vậy, dù cách định nghĩa có sự thay đổi qua các thời kỳ thì hợp đồng luôn đƣợc xác định qua hai yếu tố cơ bản: 1 - sự trao đổi, thống nhất ý chí và 2 - tạo ra một hậu quả pháp lý. Trong đó, thống nhất ý chí là thống nhất trong mỗi chủ thể (giữa ý chí, mong muốn nội tại và hành động đƣợc thể hiện qua việc thỏa thuận đàm phán hợp đồng); và thống nhất ý chí giữa các bên tham gia giao kết. Hậu quả pháp lý chính là việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về hợp đồng của các nƣớc nói riêng đều tôn trọng, đề cao sự tự do ý chí của các chủ thể tham gia hợp đồng.

Điều đó có nghĩa, các bên có thể tự do lựa chọn đối tác tham gia hợp đồng, đối tƣợng của hợp đồng, và tự thỏa thuận về nội dung của hợp đồng. Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng – hậu quả pháp lý sau khi ký kết hợp đồng là do các bên cùng thỏa thuận, xây dựng nên. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp, để bảo đảm trật tự xã hội, bảo vệ quyền của các bên yếu thế hơn, đảm bảo lợi ích công cộng và thực hiện mục tiêu phát triển xã hội, nhà nƣớc hạn chế tự do ý chí của các bên tham gia hợp đồng bằng cách can thiệp vào việc giao kết, thực hiện hợp đồng. Sự hạn chế này đƣợc biểu hiện ở những khía cạnh sau: 9 (LUAN.doi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.doi Một là nhà nƣớc hạn chế tự do lựa chọn đối tác ký kết hợp đồng.

Một trong những biểu hiện của tự do ý chí là mỗi bên đƣợc tự do lựa chọn ngƣời ký kết hợp đồng với mình. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp, pháp luật hạn chế việc lựa chọn ngƣời giao kết hợp đồng hoặc phải ƣu tiên giao kết hợp đồng với một số ngƣời nhất định. Tại Khoản 1 Điều 127 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: Trƣờng hợp chủ sở hữu bán nhà ở đang cho thuê thì phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê nhà ở biết về việc bán và các điều kiện bán nhà ở; bên thuê nhà ở đƣợc quyền ƣu tiên mua nếu đã thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà cho bên cho thuê tính đến thời điểm bên cho thuê có thông báo về việc bán nhà cho thuê, trừ trƣờng hợp nhà ở thuộc sở hữu chung; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bên thuê nhà ở nhận đƣợc thông báo mà không mua thì chủ sở hữu nhà ở đƣợc quyền bán nhà ở đó cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp các bên có thỏa thuận khác về thời hạn. Quy định này hạn chế quyền tự do lựa chọn ngƣời giao kết hợp đồng của chủ sở hữu nhà, buộc chủ sở hữu có nghĩa vụ ƣu tiên bán nhà cho ngƣời đang thuê nhà, trƣờng hợp ngƣời thuê không mua nhà thì chủ sở hữu mới đƣợc bán nhà cho ngƣời khác.

Bên cạnh việc hạn chế tự do giao kết hợp đồng, pháp luật còn có những quy định nhằm hạn chế tự do không giao kết hợp đồng. Điều này có thể thấy ở nhiều lĩnh vực, nhƣng nhiều nhất có thể thấy là trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công cộng. "Đối với ngƣời cung cấp dịch vụ công cộng không đƣợc từ chối giao kết hợp đồng nếu còn khả năng cung cấp dich vụ và phải mở ra cho tất cả mọi ngƣời đều có cơ hội nhƣ nhau trong việc mua và sử dụng dịch vụ. Ngƣời giao kết hợp đồng không đƣợc từ chối giao kết hợp đồng vì lý do sắc tộc, tôn giáo hay quốc tịch…" [9] Hai là nhà nƣớc hạn chế tự do ấn định nội dung hợp đồng.

Khi giao kết hợp đồng, mặc dù các bên có quyền tự do thỏa thuận các nội dung hợp đồng nhƣng sự tự do này vẫn phải nằm trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội. Mọi thỏa thuận trái với pháp luật và đạo đức đều không có hiệu lực thi hành.doi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.doi Bên cạnh đó, về nguyên tắc các bên tham gia hợp đồng đều tự nguyện, bình đẳng. Tuy nhiên, trong thực tế, có rất nhiều trƣờng hợp một bên trong hợp đồng yếu thế hơn nhiều so với bên còn lại về kinh tế, về cơ hội lựa chọn đối tác ký kết…, nên họ buộc phải chấp thuận những hợp đồng mẫu hoặc những điều khoản bất lợi đƣợc đƣa ra bởi bên có lợi thế hơn. Bởi vậy, để bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế hơn, pháp luật đƣa ra những giới hạn cơ bản buộc các bên phải tuân thủ khi giao kết.

Nội dung nào của hợp đồng trái với những nội dung bắt buộc này của pháp luật thì không có hiệu lực. Ví dụ, tại Điều 31 Luật Điện lực năm 2004 quy định về giá điện và các loại phí thì: 1. Biểu giá bán lẻ điện do Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt. Cơ quan điều tiết điện lực giúp Bộ trƣởng Bộ Công nghiệp xây dựng biểu giá bán lẻ điện trình Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt.

Khung giá phát điện, bán buôn điện và các loại phí truyền tải điện, phân phối điện, điều độ hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trƣờng điện lực, các phí dịch vụ phụ trợ do đơn vị điện lực có liên quan xây dựng, cơ quan điều tiết điện lực thẩm định trình Bộ trƣởng Bộ Công nghiệp phê duyệt. Giá phát điện, giá bán buôn điện, giá bán lẻ điện theo hợp đồng mua bán điện có thời hạn do các đơn vị điện lực quyết định nhƣng không đƣợc vƣợt quá khung giá, biểu giá đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt. Giá mua bán điện giao ngay đƣợc hình thành theo thời điểm giao dịch trên thị trƣờng điện lực và do đơn vị điều hành giao dịch thị trƣờng điện lực công bố phù hợp với quy định tại điểm e và điểm h khoản 1 Điều 21 của Luật này. Nhƣ vậy, mặc dù hợp đồng cung ứng điện đƣợc giao kết giữa khách hàng sử dụng điện, hoặc đơn vị bán buôn, bán lẻ điện, đơn vị phát điện với đơn vị điện lực nhƣng giá điện bán buôn, giá điện bán lẻ, giá phát điện không phải do các bên tùy ý thỏa thuận mà buộc phải tuân theo biểu giá điện đã đƣợc phê duyệt bởi cơ quan có 11 (LUAN.doi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.doi thẩm quyền.

Điều này là hợp lý, bởi lẽ điện năng là sản phẩm có vai trò quan trọng đối với sinh hoạt, sản xuất trên cả nƣớc, sản xuất điện là một ngành kinh doanh độc quyền. Nếu nhƣ giá điện đƣợc "thả trôi", không có sự kiểm soát của nhà nƣớc thì sẽ dẫn đến việc đơn vị điện lực tăng giá tùy ý, làm "lũng đoạn" thị trƣờng điện năng, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến đời sống sản xuất và sinh hoạt trong nƣớc. Đặc điểm của hợp đồng Hợp đồng có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ