phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận về thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Định. LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dân tộc Dân tộc là một khái niệm rộng, phức tạp, có nhiều cách hiểu và vận dụng đƣợc thể hiện qua các tài liệu, công trình nghiên cứu cũng nhƣ trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng. Theo Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thƣ Việt Nam: Thứ nhất, dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu đƣợc hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc ngƣời (ethnie) của bộ phận tộc ngƣời. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phƣơng thức sản xuất khác nhau.
Bƣớc vào giai đoạn phát triển công nghiệp, rõ rệt nhất là ở các nƣớc phƣơng Tây, do yêu cầu xoá bỏ tính cát cứ của các lãnh địa trong một dân tộc, nhằm tạo ra một thị trƣờng chung, nên cộng đồng dân tộc đƣợc kết cấu chặt chẽ hơn. Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội trong khu vực và bản thân. Một cộng đồng dân tộc thƣờng bao gồm nhiều cộng đồng tộc ngƣời, với nhiều ngôn ngữ, yếu tố văn hoá, thậm chí nhiều chủng tộc khác nhau. Ngày nay, do không gian xã hội đƣợc rộng mở mang tính toàn cầu, do phƣơng tiện đi lại, mỗi cộng đồng dân tộc có thêm nhiều bộ phận của các cộng đồng tộc ngƣời tham gia, nên tình trạng dân tộc đa tộc ngƣời là phổ biến.
Thứ hai, dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc ngƣời (ví dụ: dân tộc H’rê, dân tộc Chăm). Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau, đƣợc liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá và nhất là ý thức tự giác tộc ngƣời [54]. 11 Trong Dân tộc học, khái niệm dân tộc có ba góc độ nhận thức và sử dụng chủ yếu sau: Thứ nhất, dân tộc đƣợc hiểu và sử dụng đồng nghĩa với một nƣớc, một quốc gia. Trƣờng hợp này thì khái niệm dân tộc đƣợc dùng để chỉ cộng đồng cƣ dân nói chung, có thể gồm một thành phần hoặc nhiều thành phần dân tộc của một lãnh thổ quốc gia nào đó.
Ví dụ: dân tộc Việt Nam, dân tộc Nhật Bản, dân tộc Trung Quốc. Thứ hai, dân tộc dùng để chỉ các tộc ngƣời, các thành phần dân tộc trong một nƣớc, một quốc gia. Ví dụ: các thành phần dân tộc ở Việt Nam nhƣ dân tộc Kinh, dân tộc Thái, dân tộc Bana. Để xác định dân tộc/ tộc ngƣời, ngƣời ta thƣờng dựa vào ba tiêu chí: có ngôn ngữ chung; có các đặc trƣng chung về sinh hoạt – văn hóa; có ý thức tự giác tộc ngƣời, trong đó, ý thức tự giác tộc ngƣời đƣợc coi là tiêu chí quan trọng nhất.
Thứ ba, dân tộc còn đƣợc dùng với ý nghĩa chỉ những ngƣời không thuộc thành phần đa số, nhƣ ở Việt Nam là những dân tộc không phải là ngƣời Kinh. Thực chất đây là cách gọi rút gọn của cụm từ “Dân tộc thiểu số”. Theo cách hiểu này thì ở Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số [48]. Theo tác giả Bùi Xuân Đính, dân tộc đƣợc hiểu theo hai cách: Cách thứ nhất, về dân tộc (nation), tác giả đƣa ra hai nghĩa: một hình thái phát triển cao của tộc người, thường xuất hiện vào giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản (dân tộc Pháp, Đức…); một cộng đồng chính trị của nhiều tộc người có nguồn gốc lịch sử khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau cùng chung sống trong một quốc gia, được quản lý bởi một nhà nước chung, tạo lập nên một nền văn hóa chung.
Cách thứ hai, về tộc ngƣời (ethnos, ethnie): là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản, mang tính ổn định và tương đối bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử là: ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tự giác về cộng đồng [17]. 12 Theo Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), dân tộc đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, dân tộc (nation) là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng ngƣời ổn định làm thành nhân dân một nƣớc, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nƣớc và giữ nƣớc. Với nghĩa này, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một quốc gia, nghĩa là toàn bộ nhân dân của một nƣớc. Ví dụ, dân tộc Ấn Độ, dân tộc Lào, dân tộc Việt Nam, dân tộc Thái Lan.
Theo nghĩa hẹp, dân tộc (ethnie) là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng tộc ngƣời đƣợc hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác tộc ngƣời, ngôn ngữ và văn hóa. Cộng đồng này xuất hiện sau bộ tộc, bộ lạc, kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc ngƣời của các cộng đồng đó. Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận hay thành phần của một quốc gia. Chẳng hạn, Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, tức 54 cộng đồng tộc ngƣời.
Sự khác nhau giữa các cộng đồng tộc ngƣời ấy biểu hiện chủ yếu ở đặc trƣng văn hóa, lối sống, tâm lý, ý thức tộc ngƣời. Thực chất, hai cách hiểu trên về khái niệm dân tộc tuy không đồng nhất nhƣng lại gắn bó mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Dân tộc quốc gia bao hàm dân tộc tộc ngƣời; dân tộc tộc ngƣời là bộ phận hình thành dân tộc quốc gia. Dân tộc tộc ngƣời ra đời trong những quốc gia nhất định và thông thƣờng những nhân tố hình thành dân tộc tộc ngƣời không tách rời với những nhân tố hình thành quốc gia.
Đó là lý do khi nói đến dân tộc Việt Nam, thì không thể bỏ qua 54 cộng đồng tộc ngƣời; trái lại, khi nói đến 54 cộng đồng tộc ngƣời ở Việt Nam thì phải gắn liền với sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Trong nghiên cứu này, khái niệm dân tộc đƣợc hiểu và sử dụng theo nghĩa hẹp (ethnie) - dân tộc (sắc tộc, tộc ngƣời) tức dân tộc thiểu số ở Việt 13 Nam. Theo đó, dân tộc là một cộng đồng tộc người được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa. Hiểu theo nghĩa này, dân tộc có một số đặc trƣng cơ bản sau: Cộng đồng về ngôn ngữ.
Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc ngƣời khác với nhau và là vấn đề luôn đƣợc các dân tộc coi trọng gìn giữ. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển tộc ngƣời, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có những tộc ngƣời không còn ngôn ngữ mẹ đẻ mà sử dụng ngôn ngữ khác làm công cụ giao tiếp. Cộng đồng về văn hóa. Văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể ở mỗi tộc ngƣời, phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngƣỡng, tôn giáo của tộc ngƣời đó.
Lịch sử phát triển của các tộc ngƣời gắn liền với truyền thống văn hóa của họ. Ngày nay, cùng với xu thế giao lƣu văn hóa vẫn song song tồn tại xu thế bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi tộc ngƣời. Ý thức tự giác tộc người. Đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc ngƣời và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc ngƣời.
Đặc trƣng nổi bật là các tộc ngƣời luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc mình; đó còn là ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc ngƣời dù cho có những tác động làm thay đổi địa bàn cƣ trú, lãnh thổ, hay tác động ảnh hƣởng của giao lƣu kinh tế, văn hóa. Sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc ngƣời liên quan trực tiếp đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm lý tộc ngƣời. Ba tiêu chí này tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc ngƣời trong quá trình phát triển. Đây cũng là căn cứ để xem xét và phân định các tộc ngƣời ở Việt Nam hiện nay.
Các khái niệm liên quan đến dân tộc Tại Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 về công tác dân tộc quy định: 14 1. “Công tác dân tộc” là những hoạt động quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực dân tộc, nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng bào dân tộc thiểu số. “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nƣớc, theo điều tra dân số quốc gia.
“Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Dân tộc thiểu số rất ít ngƣời” là dân tộc thiểu số có số dân dƣới 10.